9 nguyên tắc chẩn và trị bệnh của Tác động cột sống

Bài viết thuộc phần 5 trong Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam – Tài liệu bản gốc – Hà nội 9- 1991 -Tác giả:  Lương Y Nguyễn Tham Tán (1915-2000)

PHẦN 3. CÁC NGUYÊN TẮC CHẨN VÀ TRỊ BỆNH TRÊN CỘT SỐNG CỦA PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG
Phương pháp Tác động cột sống trị bệnh căn cứ vào 8 nguyên tắc chẩn và trị sau đây: (Bổ sung nguyên tắc số IV, tổng cộng có 09 nguyên tắc).

I/ Nguyên tắc đối xứng.
II/ Nguyên tắc hưng phấn.
III/ Nguyên tắc định khu định điểm.
IV/ Nguyên tắc thăm dò và tiên lượng (bổ sung)
V/ Nguyên tắc tạo sóng cảm giác.
VI/ Nguyên tắc định lực.
VII/ Nguyên tắc định hướng.
VIII/ Nguyên tắc định lượng.
IX/ Nguyên tắc điều nhiệt.

Những nguyên tắc này là cơ sở cho người thầy thuốc Tác động cột sống chẩn và trị bệnh.

I. TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG:  NGUYÊN TẮC ĐỐI XỨNG.

Nguyên tắc đối xứng dựa trên nguyên tắc phân bố đối xứng của hệ cột sống để so sánh sự đối xứng, đối lập và thống nhất ở trên hệ cột sống và giữa hệ cột sống với ngoại vi bằng các đặc trưng sinh lí và bệnh lí mà phương pháp tác động cột sống đã quy định.
Sau đây chúng tôi xin trình bày về phạm vi của nguyên tắc đối xứng trong phương pháp Tác động cột sống .
1 – Đặc trưng sinh lí và bệnh lí.
2 – Cơ sở so sánh theo quy định của nguyên tắc đối xứng.
3 – Sự đối xứng và đối lập các đặc trưng bệnh lí.
4 – Nguyên tắc đối xứng trong chẩn bệnh.
5 – Nguyên tắc đối xứng trong trị bệnh.
6- Tóm tắt.

I.1 Đặc trưng sinh lí và bệnh lí.

Cơ sở để xây dựng phương pháp chẩn bệnh, trị bệnh và phòng bệnh của phương pháp Tác động cột sống là căn cứ vào sự đối lập và thống nhất các đặc trưng ở trên hệ cột sống và ngoại vi sau đây:
+ Đặc trưng cột sống:
– Thống nhất: cột sống thẳng ngay, đốt tiết kín khít.
– Đối lập: đốt sống lồi, lõm, lệch lạc, thưa rão.
+ Đặc trưng về gân cơ:
– Thống nhất: thư nhuận, kể cả lớp cơ đệm cột sống và ngoại vi.
– Đối lập: cường – nhược, cứng – mềm, dầy – mỏng, kể cả trên hệ cột sống và ngoại vi.
+ Đặc trưng về nhiệt độ da:
– Thống nhất: bình thường cả cột sống và ngoại vi.
– Đối lập: quá cao, quá thấp, cả cột sống và ngoại vi.
+ Đặc trưng về cảm giác:
– Thống nhất: không xuất hiện khác thường về cảm giác.
– Đối lập: cảm giác đau tê khi có tác động khách quan, cả cột sống và ngoại vi.
Phương pháp Tác động cột sống quy định những đặc trưng thống nhất ghi trên đây là đặc trưng sinh lí, và những đặc trưng đối lập là đặc trưng bệnh lí, có thể tóm tắt như sau:
A/ Đặc trưng sinh lí
Hệ cột sống: thẳng ngay, đốt tiết kín khít.
Nhiệt độ da: toàn thân bình thường.
Cảm giác cột sống và ngoại vi: nhanh nhậy.
Gân cơ cột sống và ngoại vi: thư nhuận.
B/ Đặc trưng bệnh lí:
Hệ cột sống: tật, khuyết.
Nhiệt độ da cột sống và ngoại vi: cao, thấp.
Cảm giác cột sống và ngoại vi: đau, tê, giảm.
Gân cơ cột sống và ngoại vi: cường, nhược.

I.2 Cơ sở so sánh theo quy định của nguyên tắc đối xứng.

Khi chẩn và trị bệnh theo phương pháp Tác động cột sống trước tiên phải căn cứ vào nguyên tắc đối xứng. Nguyên tắc đối xứng phải dựa vào sự phân bố đối xứng của hệ cột sống để phân khu, phân ranh giới cho hai bên phải trái của hệ cột sống, để so sánh các đặc trưng sinh lí và bệnh lí khu trú tại điểm và khu vực đối xứng, hoặc so sánh giữa hệ cột sống với ngoại vi có đặc trưng sinh lí và bệnh lí đối xứng:
A – So sánh khu vực đối xứng. B – So sánh đặc trưng đối xứng
A- So sánh khu vực đối xứng giữa bên phải và bên trái
– Hai bên của vùng đầu đối xứng
– Hai cơ thang đối xứng
– Hai cơ vai đối xứng
– Hai chi trên đối xứng
– Hai cơ lưng đối xứng
– Hai bên cơ thắt lưng đối xứng
– Hai bên cơ mông đối xứng
– Hai bên cơ ngực đối xứng
– Hai bên cơ hạ sườn đối xứng
– Cơ vùng bụng trên và dưới đối xứng
– Hai chi chi dưới đối xứng…

B- So sánh đặc trưng đối xứng với đốt sống và ngoại vi
– Đốt sống với đốt sống
– Cảm giác đốt sống với cảm giác ngoại vi
– Nhiệt độ da cột sống với nhiệt độ da ngoại vi
– Gân cơ đốt sống với gân cơ ngoại vi

I.3- Sự đối xứng và đối lập các đặc trưng bệnh lí

Nguyên tắc đối xứng quy định:
A- Đối xứng các đặc trưng bệnh lí
B- Đối lập các đặc trưng bệnh lí
C- So sánh sự đối xứng và đối lập bệnh lí

A- Đối xứng các đặc trưng bệnh lí

Trên người bệnh bao giờ cũng xuất hiện các hiện tượng bệnh lí trên cột sống. Mà khi trên hệ cột sống đã có hiện tượng bệnh lí thì nhất thiết ngoại vi cũng phải có các hiện tượng bệnh lí đối xứng.
– Hệ cột sống có cảm giác đau do tác động khách quan thì ngoại vi cũng có cảm giác đau như thế.
– Hệ cột sống có lớp cơ co cứng thì ngoại vi cũng có lớp cơ co cứng.
– Hệ cột sống có nhiệt độ da cao thì ngoại vi cũng có nhiệt độ da cao.
– Hệ cột sống có cảm giác tê thì ngoại vi cũng có cảm giác tê.
– Hệ cột sống có lớp cơ gân cơ mềm nhược thì ngoại vi cũng có gân cơ mềm nhược.
– Hệ cột sống có nhiệt độ da thấp thì ngoại vi cũng có nhiệt độ da thấp.
Nhưng có điều đặc biệt là các hiện tượng trên đây có hiện tượng thì khu trú cố định, có hiện tượng thì khu trú không cố định:

Khu trú cố định:
– Các hiện tượng có cảm giác đau, nhiệt độ da cao, gân cơ co cứng, cường, cùng khu trú tại một điểm ở trên đốt sống lồi và lệch.
– Các hiện tượng cảm giác tê, nhiệt độ da thấp, gân cơ mềm nhược, cũng khu trú tại một điểm ở trên đốt sống lõm.
Khu trú không cố định:
– Ở ngoại vi các hiện tượng bệnh lí không tập trung khu trú tại một điểm như ở trên hệ cột sống, mà khu trú rải rác ở ngoại vi, mỗi nơi một hiện tượng khác nhau.
Do đó mà các hiện tượng bệnh lí ở trên hệ cột sống gọi là ổ rối loạn mà các hiện tượng bệnh lí ở ngoại vi gọi là hiện tượng bệnh lí đối xứng.

B- Đối lập các đặc trưng bệnh lí:
Phương pháp Tác động cột sống quy định những hiện tượng bệnh lí có hai mặt đối lập nhau, bao giờ cũng khu trú ở hai khu vực đối xứng theo nguyên tắc phân bố đối xứng của hệ cột sống:
1) Trên hệ cột sống: Đốt sống Lệch đối lập với đốt sống khuyết, đối sống lồi đối lập với đốt sống lõm.
Hai hiện tượng đối lập cư trú trên khu vực đối xứng đốt sống là:
– Bên phải đốt sống có hiện tượng lệch thì bên trái đốt sống có hiện tượng khuyết.
– Phía trên đốt sống có hiện tượng lồi thì phía dưới đốt sống có hiện tượng lõm, hoặc ngược lại, phía trên đốt sống có hiện tượng lõm thì bên dưới đốt sống có hiện tượng lồi.
2) Trên hệ gân cơ: hai biện tượng bệnh lí đối lập trên hệ cột sống và ngoại vi là:
– Gân cơ cường đối lập với gân cơ nhược
– Gân cơ dầy đối lập với gân cơ mỏng
– Gân cơ cứng đối lập với gân cơ mềm
– Gân cơ teo đối lập với gân cơ xơ
Hai hiện tượng đối lập khu trú đối xứng trên hệ cột sống và ngoại vi như sau:
a. Gân cơ trên đốt sống:
– Bên phải đốt sống có lớp cơ cường thì bên trái đốt sống có lớp cơ nhược.
– Bên trên đốt sống có lớp cơ cường thì bên dưới đốt sống có lớp cơ nhược.
– Bên phải đốt sống có lớp cơ co dầy thì bên trái đốt sống có lớp cơ mỏng/ khuyết.
– Bên phải đốt sống có lớp gân cơ cứng thì bên trái đốt sống có lớp gân cơ mềm.
– Bên trên đốt sống có lớp cơ co cứng thì bên dưới đốt sống có lớp cơ co mềm.
– Bên phải đốt sống có hiện tượng xơ thì bên trái đốt sống có hiện tượng teo.
– Bên trên đốt sống có hiện tượng xơ thì bên dưới đốt sống có hiện tượng teo. v.v
b. Gân cơ thuộc ngoại vi
Gân cơ thuộc ngoại vi là lớp gân cơ ngoài phạm vi của hệ cột sống như cơ thang, cơ vai, cơ lưng, cơ ngực v.v… điển hình là hiện tượng cụ thể:
– Cơ thang bên phải có hiện tượng cường thì cơ thang bên trái có hiện tượng nhược (hoặc ngược lại); hay phần trên cơ thang có hiện tượng cường thì phần dưới cơ thang có hiện tượng nhược.
– Bên phải cơ thang có hiện tượng co dầy thì bên trái đối xứng cơ thang có hiện tượng mỏng mềm; hay phần trên cơ thang có hiện tượng co dầy thì phần dưới cơ thang có hiện tượng co mỏng.
– Bên phải cơ thang có hiện tượng xơ thì bên trái cơ thang có hiện tượng teo v.v…
3. Về cảm giác: Hai mặt đối lập về bệnh lí là cảm giác đau nhiều với cảm giác đau tê, cảm giác đau ít với cảm giác giảm. Hai hiện tượng đối lập này khu trú đối xứng ở hệ cột sống và ngoại vi như sau:
a. Trên hệ cột sống:
– Bên phải đốt sống có cảm giác đau nhiều thì bên trái đốt sống có cảm giác tê (do tác động khách quan).
– Bên trên có cảm giác đau nhiều thì bên dưới có cảm giác tê.
– Bên phải đốt sống có cảm giác đau ít thì bên trái đốt sống có cảm giác giảm.
– Bên trên có cảm giác đau ít thì bên dưới đốt sống có cảm giác giảm.
b. Ngoại vi: tức là cảm giác đau, tê ở ngoài phạm vi cột sống như vùng đầu, vùng cổ, vùng tai, vùng lưng v.v…
Thí dụ tại vùng trên lưng trên:
– Bên phải của phần trên lưng trên có cảm giác đau nhiều thì bên trái của phần trên lưng trên có cảm giác tê.
– Phần trên lưng trên có cảm giác đau nhiều thì phần dưới của lưng trên có cảm giác tê.
– Phần trên lưng trên có cảm giác đau ít thì phần dưới của lưng trên có cảm giác giảm.
– Bên phải của phần trên lưng trên có cảm giác đau ít thì bên trái của phần trên lưng trên có cảm giác giảm v.v…
4. Nhiệt độ da: Hai hiện tượng đối lập về bệnh lí là nhiệt độ da cao và nhiệt độ da thấp thường khu trú đối xứng trên hệ cột sống và ngoại vi như sau:
a – Trên hệ cột sống: Bên phải đốt sống có nhiệt độ da cao thì bên trái đốt sống có nhiệt độ da thấp; hoặc bên trên đốt sống có nhiệt độ da cao thì bên dưới đốt sống có nhiệt độ da thấp.
b – Ngoại vi: Nhiệt độ da cao và thấp ở ngoài vi phạm cột sống như vùng đầu, vùng cổ, vùng vai v.v… biểu hiện:
– Bên phải vùng vai có nhiệt độ da cao thì bên trái có nhiệt độ da thấp.
– Vùng dưới của vai phải có nhiệt độ da thấp thì vùng trên của vai phải có nhiệt độ da cao v.v..
C- So sánh đối xứng và đối lập về đặc trưng bệnh lí
Cơ sở để so sánh sự đối xứng của các đặc trưng bệnh lí là hệ cột sống với ngoại vi. Cơ sở để so sánh sự đối lập các đặc trưng bệnh lí là các khu vực đối xứng theo nguyên tắc phân bố đối xứng của hệ cột sống mà phương pháp tác động cột sống đã quy định.

I.4 Nguyên tắc đối xứng trong chẩn bệnh

Phương pháp tác động cột sống quy định trong chẩn bệnh nguyên tắc đối xứng là cơ sở để so sánh các hiện tượng hoạt động thống nhất và đối lập của hệ gân cơ, thân nhiệt, cảm giác trên hệ cột sống và các vùng ngoại vi, căn cứ vào đó phát hiện các định hình bệnh lí khu trú trên hệ cột sống có ảnh hưởng đến chức năng dẫn truyền và chi phối mọi chức năng hoạt động thống nhất của các bộ phận cơ thể mà thành bệnh.
Nguyên tắc đối xứng giữ vai trò quan trọng trong các nguyên tắc chẩn bệnh như:
– Nguyên tắc hưng phấn
– Nguyên tắc định khu, định điểm.
Phương pháp thực hiện cụ thể:
Phương pháp tác động cột sống quy định rằng trong chẩn bệnh dựa vào nguyên tắc đối xứng không được bỏ sót một hiện tượng nào đối lập trong các đặc trưng bệnh lí. Do đó mà phương pháp chẩn bệnh đề ra các phương thức như sau:
1) Nếu có điều kiện dùng máy móc, ta nên dùng các loại máy đo thích hợp để so sánh sự chênh lệch của các hiện tượng đối lập bằng các chỉ số cụ thể, như máy đo sự hoạt động của gân cơ, máy đo nhiệt độ da, máy và phim chụp các vùng cảm giác đau v.v…
2) Nếu không có điều kiện dùng máy, ta nên áp dụng bằng các thủ thuật cũng có thể nhận biết được, nhưng không ghi được các chỉ số cụ thể mà chỉ có thể phân biệt được sự chênh lệch của hai mặt đối lập như gân cơ cường so sánh với gân cơ nhược, nhiệt độ cao so sánh với nhiệt độ thấp, đốt sống lệch so sánh với đốt sống khuyết v.v…
Lẽ tất nhiên phải qua một thời gian luyệt tập thì mới bảo đảm được sự quy định của nguyên tắc đã đề ra. Trong điều kiện hiện nay, công trình nghiên cứu chưa được trang bị những thiết bị theo yêu cầu, sự so sánh chênh lệch của các đặc trưng ghi trên đây là căn cứ vào sự nhận biết được của các thủ thuật đã được luyện tập.

I.5 Nguyên tắc đối xứng trong trị bệnh

Trong trị bệnh nguyên tắc đối xứng có những vai trò sau:
A- Theo dõi sự thay đổi độ chênh lệch của các đặc trưng đối lập để đánh giá sự tiến triển của bệnh.
B- Là cơ sở để áp dụng thủ thuật song chỉnh trong thao tác trị bệnh
A. Sự thay đổi độ chênh lệch của hiện tượng đối lập
Trong trị bệnh các hiện tượng đối lập thường thay đổi ngay khi thao tác trong:
– Hệ gân cơ
– Nhiệt độ da
– Cảm giác cột sống
Trên hệ gân cơ, những hiện tượng đối lập là:
– gân cơ co với gân cơ duỗi
– Gân cơ cứng với gân cơ mềm
– Gân cơ dầy với gân cơ mỏng
Trong khi thao tác thì khu vực gân cơ co sẽ trở thành thư nhuận, khu vực gân cơ duỗi đối xứng sẽ trở thành lực cơ tăng, khu vực gân cơ cứng đối xứng và khu vực gân cơ mềm sẽ thay đổi, cứng trở thành thư nhuận, mềm nhược sẽ tăng lực cơ. Như vậy chức năng hoạt động của gân cơ sẽ trở lại cân bằng, nghĩa là xóa được hai hiện tượng đối lập, và bệnh hết v.v…
Nhiệt độ da: Hai hiện tượng đối lập là nhiệt độ da quá cao và quá thấp sẽ được điều chỉnh trở lại cân bằng trong khi thao tác, khu vực nhiệt độ quá cao sẽ giảm dần xuống bình thường, khu vực nhiệt độ quá thấp sẽ tăng dần trở lại nhiệt độ bình thường, bệnh hết v.v…
Cảm giác trên cột sống: Hai hiện tượng đối lập trên cột sống là cảm giác đau và cảm giác tê.
Trong khi thao tác trị bệnh thì khu vực đau nhiều sẽ giảm đau dần rồi hết đau, khu vực tê đối xứng từ tê nhiền đến tê ít rồi hết tê, trở lại cảm giác nhanh nhạy bình thường, bệnh hết v.v…
Do đó nguyên tắc đối xứng là cơ sở để so sánh sự tiến triển của bệnh.
B. Cơ sở của song chỉnh
Phương pháp tác động cột sống quy định về phương thức thao tác trị bệnh có đơn chỉnh và song chỉnh.
Đơn chỉnh là chỉ tác động tại một điểm ở trên hệ cột sống. Song chỉnh là tác động đồng thời tại hai khu vực một lúc (một là ở khu vựng cột sống và một là ở ngoại vi).
Cơ sở của phương pháp song chỉnh là đối xứng đặc trưng.
– Ở bên phải đốt sống có ổ rối loạn (tức là có cảm giác đau và cơ co cộm) thì ở bên cơ lưng phía trái đốt sống nhất thiết phải có khu vực có cảm giác đau, tức là hai điểm đau đối xứng.
– Hai điểm đau đối xứng còn có liên quan tương ứng với nhau: nếu tác động ở điểm đau của ngoại vi thì ta sẽ thấy điểm đau ở trên đốt sống máy động, nếu tác động ở điểm đau trên cột sống thì điểm đau ở ngoại vi giảm đau và thay đổi hình thái. Nếu hai điểm đau được tác động cùng một lúc thì ổ rối loạn trên cột sống mau giải tỏa và ổ rối loạn ngoại vi cũng tiêu tan, bệnh hết.
Do đó mà nguyên tắc đối xứng là cơ sở của phương thức song chỉnh trong trị bệnh.
I.6 Tóm tắt
Nguyên tắc đối xứng là cơ sở để so sánh sự đối lập và thống nhất mọi hoạt động của khu vực và đặc trưng theo quy định của phương pháp, là cơ sở của chẩn bệnh và trị bệnh, là cơ sở để xây dựng và phát triển phương pháp tác động cột sống ngày một phong phú, và chính nguyên tắc đối xứng trong phương pháp tác động cột sống lại là trung tâm để kết hợp được với các trường phái và các ngành trong y học.

II. NGUYÊN TẮC HƯNG PHẤN TRONG TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG

Theo quy định của nguyên tắc đối xứng thì hưng phấn và ức chế là hai mặt cân bằng của cột sống có thể xuất hiện ở cả một khu vực rộng lớn, hoặc chỉ ở một phần nhỏ trên cột sống.
Cơ sở để so sánh những hiện tượng hưng phấn và ức chế là các đặc trưng:
1) Hưng phấn: đốt sống lồi, lệch, lớp cơ đệm co, cứng, cảm giác đau tăng, nhiệt độ da cao.
2) Ức chế: đốt sống lõm, lớp cơ đệm teo, nhược, cảm giác giảm, nhiệt độ da thấp.
Phương pháp tác động cột sống trị bệnh dựa vào nguyên lý ức chế sự phát triển hưng phấn tại điểm hưng phấn, tạo điều kiện cho cơ chế tự điều chỉnh, phục hồi sự cân bằng giữa quá trình hưng phấn và ức chế trên hệ cột sống bằng cách tác động tại khu vực hưng phấn. Tuyệt đối không tác động tại điểm ức chế.
Dựa vào nguyên lý trên, phương pháp tác động cột sống căn cứ vào điểm hưng phấn làm cơ sở cho chẩn đoán, phân loại và xác định trọng điểm.
Khu vực ức chế không có trọng điểm.
Do đó nguyên tắc hưng phấn là một trong những cơ sở để chẩn bệnh theo phương pháp tác động cột sống.
Để phân biệt được khu vực hưng phấn vào ức chế, phương pháp tác động cột sống dùng thủ thuật ÁP để xác định sự biến đổi về nhiệt độ da quá cao và quá thấp.
Sau đó áp dụng thủ thuật VUỐT để xác định hình thái đốt sống lồi, lõm; lệch và lớp cơ đệm co, cứng hoặc teo, nhược…
Nguyên tắc hưng phấn là cơ sở để xác lập nguyên tắc định điểm sau này.

III. NGUYÊN TẮC ĐỊNH KHU – ĐỊNH ĐIỂM

Cơ sở để xác định bệnh là nhiệt độ trên cột sống. Nhiệt độc cột sống bị biến đổi là một hiện tượng của cơ thể bệnh lí. Một khi cơ quan nội tạng hay một bộ phận nào của cơ thể bị bệnh thì sự biến đổi về nhiệt độ cột sống biểu hiện ở các khu vực tương ứng, cụ thể bệnh huyết áp thường biểu hiện ở vùng cổ, bệnh về tuần hoàn, hô hấp thường biểu hiện ở vùng lưng trên, bệnh về tiêu hóa thường biểu hiện ở vùng giữa lưng, và bệnh về thận thường biểu hiện ở vùng thắt lưng.
Nhưng trên một cơ thể bệnh ít gặp trường hợp chỉ có sự biến đổi về nhiệt độ của một vùng, mà trên hệ cột sống thường thấy nhiều vùng có biến đổi về nhiệt độ.
Trên hệ cột sống của từng người bệnh cụ thể bao giờ cũng có ổ rối loạn. Rối loạn trên một đốt sống gọi là đơn, và rối loạn trên nhiều đốt sống liền nhau gọi là liên.
Nhưng ít có người bệnh chỉ có một ổ rối loạn mà phần lớn người bệnh có nhiều ổ rối loạn trên hệ cột sống, gọi là khu vực rối loạn.
Trong các ổ rối loạn đó bao giờ cũng phải có một ổ rối loạn lớn nhất được coi là nguồn gốc của các hiện tượng rối loạn ngưng tụ trên hệ cột sống người bệnh, và cũng có thể nói là “gốc bệnh”.
Do đó định khu là tìm ra khu vực tập trung các ổ rối loạn, trong đó khu vực có ổ rối loạn lớn nhất gọi là trọng khu; định điểm là tìm ra điểm có rối loạn, trong các điểm rối loạn lại tìm ra ổ rối loạn lớn nhất gọi là trọng điểm.
Vấn đề trọng khu và trọng điểm được đề cập ở đây là một trong các nguyên tắc của Phương pháp tác động cột sống.
Các thủ thuật viên cần nắm vững nguyên tắc này thì khi tác động trị bệnh mới tránh được sai sót vì:
– Khi xử lý các ổ rối loạn trên hệ cột sống người bệnh, nếu tác động đúng trọng khu thì chỉ cần xử lý ở một trọng điểm cũng đủ đủ làm cho trọng khu mau thay đổi, các ổ rối loạn khác tiêu tan.
– Nếu xử lý không đúng trọng khu và trọng điểm thì triệu trứng bệnh có thể giảm nhẹ nhưng không hết được bệnh, có thể đến một thời gian nào đó bệnh lại tái phát. Hơn nữa mức độ thuyên giảm chậm kéo dài thời gian điều trị vô ích.
ĐẶC ĐIỂM: Trọng khu và trọng điểm dễ xê dịch trong khi thao tác.
– Có khi tác động tại một trọng điểm thì trọng khu thay đổi tức thời, nghĩa là nhiệt độ giảm, lớp cơ đỡ co, cảm giác đỡ đau. Lúc này thủ thuật viên cần tìm lại trọng khu mới – tức là điểm tập trung các rối loạn cao nhất lúc đó – và tìm trọng điểm mới trong trọng khu mới để tiếp tục thao tác.
– Có trường hợp mới tác động ngắn, trọng khu chưa thay đổi, nhưng trọng điểm thay đổi tức thì, thủ thuật viên phải luôn thăm dò nhiệt độ và kịp thời xác định trọng điểm mới để trị bệnh, tiếp tục đến khi giải tỏa được ổ rối loạn
– Phương pháp tác động cột sống căn cứ vào nguyên tắc hưng phấn để xác định trọng khu và trọng điểm, nghĩa là trọng khu và trọng điểm nằm trong khu vực hưng phấn, và không quy định trọng điểm ở điểm ức chế.

IV. NGUYÊN TẮC THĂM DÒ TIÊN LƯỢNG (bổ sung theo tài liệu việt tay)

Nguyên tắc này sẽ được cho vào phần bổ sung chuyển đến bạn đọc sau khi đăng hết nội dung bản gốc của Thầy Tổ.

V. NGUYÊN TẮC TẠO SÓNG CẢM GIÁC

Cảm giác đau ở hệ cột sống gồm có:
– Cảm giác đau do hệ cột sống.
– Cảm giác đau do bệnh của các tổ chức khác trong cơ thể.
Cảm giác đau do hệ cột sống
Cảm giác đau do hệ cột sống do chính cột sống có bệnh gây ra đau đớn, mặc dầu không có sự tác động của khách quan (cụ thể như gai đôi, lồi đĩa đệm, vôi hóa, thoái hóa và các bệnh khác về đốt xương sống v.v…).
Cảm giác đau do bệnh của các tổ chức khác trong cơ thể
Khi một tổ chức nào đó của cơ thể bị bệnh, người bệnh không tự cảm thấy đau ở cột sống, chỉ khi nào có sự tác động khách quan thì người bệnh mới cảm thấy đau.
Về hình thức, tác động là nhu thuật, cho nên nó chỉ có giá trị tạo được cảm giác đau đối với trọng điểm ở trong ổ rối loạn, ngoài ra hình thức tác động này không có giá trị tạo được cảm giác đau đối với khu vực bình thường.
Đặc tính cảm giác đau ở trọng điểm cột sống
Điểm cảm giác đau tại trọng điểm của cột sống nếu được tác động thì ở điểm đó cảm giác đau sẽ từ đau nhất đến giảm đau rồi đến hết đau hoàn toàn.
Cảm giác đau với phản ứng co cơ
Điểm cảm giác đau ở trong trọng điểm cụ thể cho thấy một khi được tác động tới thì có liền sự phản ứng của gân cơ gây co. Khi ngừng tác động thì gân cơ buông trùng lại. Nếu tác động mau thì gân cơ co và trùng mau, tác động thưa thì gân cơ co và trùng thưa. Nếu tác động gây cảm giác đau kéo dài thì gân cơ gây co kéo dài.
Do đó phương pháp tác động cột sống đã lấy cảm giác đau tại trọng điểm để gây sự phản ứng của gân cơ co trùng xen kẽ nhịp nhàng thành lớp lớp sóng thích hợp nhất giải tỏa ổ rối loạn khu trú trên hệ cột sống, và qua đó cũng chính là đồng thời phục hồi lại sự cân bằng của cơ thể.
Từ đó đã hình thành tên gọi sóng cảm giác.
Sau đây xin giới thiệu về sự phản ứng gây co cơ khi tác động tạo sóng cảm giác tại trọng điểm.
Sự phản ứng của cơ thể trong khi tác động trị liệu
Trong khi tác động trên cột sống để trị bệnh, tạo cảm giác đau tại trọng điểm, bao giờ trên cơ thể người bệnh cũng có những phản ứng nhất định chia thành hai loại:
– Loại phản ứng dương tính
– Loại phản ứng âm tính
A. Phản ứng dương tính
Loại phản ứng dương tính dương tính có các thể:
1. Thể phản ứng dương tính toàn thân là khi tác động tới trọng điểm thì người bệnh liền có sự phản ứng co giật toàn thân, gân cơ cứng lại, khi không tác động thì gân cơ trùng lại.
2. Thể phản ứng dương tính cục bộ là khi tác động tới trọng điểm thì người bệnh liền có sự phản ứng co giật gân cơ từ vùng trọng điểm lan tỏa sang tới các khu vực nhất định, khi ngừng tác động thì gân cơ trùng lại (chức năng vận động).
3. Thể phản ứng dương tính hệ cột sống là khi tác động tới trọng điểm thì người bệnh liền có sự phản ứng co lồi ở trên hệ cột sống, khi ngừng tác động thì gân cơ trùng lại, hệ cột sống trở lại bình thường (thích hợp với bệnh ở trên các đốt sống lõm) .
4. Thể phản ứng dương tính trên trọng điểm là khi tác động tới trọng điểm thì người bệnh liền có sự phản ứng cơ co máy động ở trọng điểm, khi ngừng tác động thì lớp cơ co ở trọng điểm cũng ngừng máy động (thích hợp với các đốt sống lệch).
B. Phản ứng âm tính
Loại phản ứng âm tính có các thể:
1) Thể phản ứng âm tính hệ cột sống là khi tác động tại trọng điểm thì người bệnh liền có sự phản ứng co oằn cột sống, tại cột sống không có hiện tượng máy động. Khi ngừng tác động thì sự phản ứng cũng ngưng lại.
Khi điều trị gặp phản ứng này là biểu hiện sự điều trị gần đến ngưỡng, cần giải tỏa hết ổ rối loạn, thầy thuốc phải nhanh chóng tác động tiếp để giải tỏa ổ bệnh, không được bỏ lỡ cơ hội.
2) Thể phản ứng âm tính tại trọng điểm là khi tác động tại trọng điểm thì người bệnh liền có sự phản ứng co lõm tại trọng điểm, không có sự lan tỏa. Trường hợp này thích hợp với đốt sống lồi.
Từ cơ sở trên, phương pháp tác động cột sống đã xây dựng các nguyên tắc, các phương thức, các tư thế và các thủ thuật trị liệu riêng.

V. NGUYÊN TẮC ĐỊNH LỰC THAO TÁC

Định lực thao tác là sự quy định sức mạnh của thầy thuốc được phép dồn vào đầu ngón tay để thao tác trị bệnh. Sức mạnh này từ nhẹ nhất đến mạnh nhất được quy định như sau:
1) Sức mạnh của một ngón tay ứng dụng cho các trọng điểm khu trú tại vùng lưng trên từ D1 đến D7 và vùng cụt.
Hình thức của thủ thuật thao tác
Đặt nghiêng bàn tay trên lưng người bệnh, ngón tay út và ngón tay thứ tư co vào lòng bàn tay, dùng ngón giữa để thao tác tại trọng điểm. Tùy theo loại, thể rối loạn mà dùng lực nhẹ nhất đến mạnh nhất của ngón tay.
2) Sức mạnh của một bàn tay ứng dụng cho các trọng điểm khu trú tại vùng cổ từ C1 đến C7
Hình thức của thủ thuật thao tác:
Đặt úp lòng bàn tay trên lưng người bệnh, dùng dận bàn tay làm điểm tì, lấy ngón giữa hoặc ngón cái tác động tại trọng điểm, tùy theo loại, thể và rối loạn mà dùng lực từ nhẹ nhất là bằng lực nhẹ nhất của ngón tay cho đến lực tối đa của bàn tay.
3) Sức mạnh của một cánh tay co ứng dụng cho các trọng điểm khu trú tại vùng lưng từ D8 đến D12.
Hình thức của thủ thuật thao tác:
Co cánh tay thành góc thước thợ, cánh tay trên khép sát thân mình theo phương dây rọi, dùng ngón tay cái hoặc ngón tay giữa để thao tác tại trọng điểm. Tùy theo các loại và thể rối loạn mà dùng lực từ nhẹ nhất bằng lực nhẹ nhất của một ngón tay và mạnh nhất bằng lực của cánh tay co.
4) Sức mạnh của cánh tay thẳng ứng dụng cho các trọng điểm khu trú ở vùng thắt lưng từ L1 đến L5.
Hình thức của thủ thuật thao tác:
Duỗi thẳng cánh tay, dùng ngón tay cái hoặc dận bàn tay để thao tác tại trọng điểm, tùy theo loại và thể rối loạn mà dùng lực từ nhẹ nhất bằng lực nhẹ nhất của một ngón tay, và mạnh nhất bằng lực của cả một cánh tay.
5) Sức mạnh của toàn thân thầy thuốc ứng dụng cho các trọng điểm khu trú tại vùng hông từ S1 đến S5
Hình thức của thủ thuật thao tác:
Duỗi thẳng cánh tay dồn toàn bộ trọng lượng của mình vào dận bàn tay để thao tác tại trọng điểm. Tùy theo loại và thể rối loạn mà dùng lực nhẹ bằng lực nhẹ nhất của ngón tay, cho đến mạnh nhất là toàn lực của thầy thuốc.
Các trường hợp ngoại lệ
(1) Loại mỏng, mềm, thể Ngoài thì bất cứ ở khu vực nào trên cột sống cũng chỉ áp dụng bằng lực của một ngón tay, tác động nhẹ nhàng.
(2) Loại xơ, cứng bất cứ ở thể nào và khu trú ở khu vực nào trên cột sống cũng chỉ áp dụng bằng lực của cánh tay co.
(3) Loại co cứng, dầy, thể Ngoài ngón tay không ấn tới đầu gai sống được thì phải đắp cua đồng cho giãn cơ rồi mới dùng lực thao tác như đã nói ở trên.

VII. NGUYÊN TẮC ĐỊNH HƯỚNG

Khi tác động trị bệnh phải có một hướng nhất định. Phương pháp tác động cột sống căn cứ vào trục cột sống làm chỗ dựa để tìm tòi các thuật trị thích hợp, đồng thời dùng trục cột sống làm cơ sở để hướng mọi kích thích như gân cơ, đốt xương trở lại cân bằng.
Trục theo phương pháp tác động cột sống quan niệm là ống tủy, các hiện tượng co cơ, các biến đổi hình thái của đốt sống, các rối loạn về nhiệt độ và cảm giác ở trên cột sống đều lấy trục nói trên làm đường đối xứng để so sánh giữa hai bên.
Để ứng dụng cho các hướng thích hợp với các thể và loại rối loạn cụ thể, phương pháp tác động cột sống đã quy định như sau:
1) Đốt đống lồi tác động theo hướng thẳng từ ngoài vào trong.
2) Lồi phần trên, dưới khuyết: tác động theo hướng từ trên xuống. Ngược lại, nếu phần dưới lồi, phần trên khuyết thì tác động theo hướng từ dưới lên.
3) Phần trên lồi, dưới không khuyết, hoặc dưới lồi, trên không khuyết đều tác động theo hướng thẳng từ ngoài vào trong.
4) Đốt sống lồi lệch một phần (trên hoặc dưới), hay lồi lệch cả đốt: tác động theo hướng chếch 450 từ ngoài vào trong lực đẩy phía lồi lệch sang phía khuyết.
5) Đốt sống lệch (lệch trên, lệch dưới hoặc lệch cả đốt): tác động theo hướng ngang từ ngoài vào trục.
6) Đốt sống lệch lõm (một phần hoặc cả đốt): tác động theo hướng lực đưa ngang từ ngoài vào rồi tiếp từ trong ra theo đường cuộn tròn (thủ thuật bỉ).
7) Đốt sống lõm: tác động song chỉnh bằng thủ thuật bỉ ở cả hai bên trong cùng một lúc, đưa lực từ hai bên hướng trục rồi lại tiếp tục đưa lực từ trục tiếp ra ngoài theo hướng cuộn tròn.
CHÚ Ý: Khi ứng dụng hướng thao tác trị bệnh cần chú trọng đến nguyên tắc điều nhiệt để định hướng thao tác cho chính xác.

VIII. NGUYÊN TẮC ĐỊNH LƯỢNG

Nguyên tắc định lượng là một quy định về lượng tác động tính theo thời gian dài hay ngắn.
Thời gian tác động tại trọng điểm có tính quyết định vì thời gian tác động đáp ứng đúng với mức tiếp nhận của cơ thể người bệnh thì hiệu quả cao, chưa đúng với mức tiếp nhận thì hiệu quả thấp, hoặc quá mức tiếp nhận thì cơ thể có sự phản ứng ngược lại, mà những kết quả điều trị ban đầu lại mất hết.
Do đó phương pháp tác động cột sống quy định thời gian thao tác cho từng buổi chữa, và thời gian quá trình điều trị trở thành một nguyên tắc.
A – Thời gian thao tác
Thời gian thao tác là một quy định cho thầy thuốc dùng thủ thuật tác động tại trọng điểm dài hay ngắn.
Thời gian cho một lần điều trị không xuất phát từ sự áp đặt chủ quan tùy tiện của thầy thuốc mà phải căn cứ vào sự phản ứng của cơ thể người bệnh để ứng dụng cho thích hợp.
Sự phản ứng đó biểu hiện bằng hiện tượng khô se của mặt da chuyển sang ẩm ướt tại trọng điểm mà người thầy thuốc có thể nhận biết ngay trên đầu ngón tay đang thao tác. Phương pháp tác động cột sống định nghĩa mức độ này là ngưỡng thao tác.
Trong khi tác động phải chú ý theo dõi:
1) Khi trọng điểm còn khô sẽ là thời gian tác động chưa đúng yêu cầu, chưa đến ngưỡng thao tác, nếu ngừng thì hiệu quả ít.
2) Khi trọng điểm đã ẩm ướt là hiệu quả tác động cao nhất và đúng ngưỡng thao tác, đáp ứng đúng mức độ tiếp thu của cơ thể người bệnh. Vì vậy cần ngừng ngay thao tác.
3) Khi mặt da tại trọng điểm đã chuyển sang ẩm ướt mà vẫn tiếp tục thao tác là quá ngưỡng, quá mức tiếp nhận của cơ thể, tạo nên một phản xạ ngược lại do bị kích thích quá mức, mà những kết quả ban đầu bị xóa hết, việc điều trị lần đó trở nên vô hiệu.
Sau đây là kết quả điển hình trong việc điều trị bệnh huyết áp cao, chứng minh những hiện tượng nói trên:
(1) Khi thao tác mà trọng điểm chưa ẩm ướt, huyết áp cũng có thể xuống, nếu ngừng thao tác, hiệu quả không cao và tác dụng không kéo dài.
(2) Khi ngừng thao tác lúc trọng điểm đã ẩm ướt là đúng mức tiếp nhận của cơ thể người bệnh, thao tác đã đến ngưỡng. Huyết áp giảm xuống và hiệu quả điều trị kéo dài.
(3) Khi trọng điểm đã ẩm ướt mà vẫn thao tác tiếp thì huyết áp không những không giảm xuống mà còn tăng lên trở lại trạng thái ban đầu.
Trong khi điều trị, thầy thuốc cần tập trung theo dõi cao độ về phản ứng cơ thể của người bệnh vì dễ lầm lẫn ngưỡng thao tác. Chẳng hạn như trường hợp rối loạn quá lớn thầy thuốc muốn tập trung thao tác để giải tỏa tức thời ổ rối loạn nên thường bị vượt quá ngưỡng.
Khi gặp những trường hợp ổ rối loạn quá lớn này, thầy thuốc cần xác định rằng mặc dù còn rối loạn lớn, nhưng khi trọng điểm đã ẩm ướt thì phải ngừng thao tác để tránh tác dụng phản ứng ngược lại của cơ thể người bệnh. Cơ thể có khả năng tự điều chỉnh để giải tỏa ổ bệnh và chỉ tiếp thu đến mức nhất định trong từng lần điều trị. Ngưỡng thao tác này có thể rất khác nhau, có lần cơ thể bệnh nhân tiếp nhận thao tác được 30 phút, nhưng có lần chỉ 2 phút đã có thay đổi ẩm ướt.
Tóm lại, trong việc điều trị, thầy thuốc không những phải chú ý đến hình thái và vị trí khu trú của trọng điểm, triệu chứng cơ năng và con người cụ thể mà còn phải chú trọng đến nguyên tắc định lượng nói trên để áp dụng thủ thuật thao tác trong thời gian thích hợp nhất cho cơ thể người bệnh, và đó cũng chính là đạt tới ngưỡng thao tác thích hợp trị bệnh, và hiệu quả thu lượm được cao nhất trong điều trị.
B- Thời gian của quá trình điều trị.
Trong phần A chúng tôi đã trình bày về quá trình thời gian thao tác cho một lần chữa. Sau đây là quy định về thời gian của quá trình thao tác giải tỏa hình thái của trọng điểm để trị bệnh.
Đặc điểm và hình thái của trọng điểm bao giờ cũng biểu hiện trên lớp cơ đệm bị xơ, co, tạo nên sự dính cứng giữa các đốt gọi là khe đốt, có trường hợp chỉ tác động một lần điều trị thì các đốt bị dính cứng đã chuyển động, cũng có trường hợp tác động nhiều lần mới chuyển động.
Sự chuyển động của các đốt sống bị dính cứng là cơ sở để kết thúc thời gian của quá trình điều trị
Khi tác động bằng thủ thuật sóng mà đốt sống đã chuyển động thì phải ngưng điều trị. Nhưng khi tác động bằng thủ thuật nén mà đốt sống đã chuyển động thì phải tiếp tục áp dụng thủ thuật sóng cho đến khi sự chuyển động trở lại bình thường hẳn, mời hoàn thành quá trình điều trị.
CHÚ Ý:
(1) Khi điều trị mà các khe đốt của trọng điểm còn dính cứng là chưa giải tỏa được ổ bệnh, cần tiếp tục điều trị mặc dầu triệu chứng cơ năng đã hết. Lúc này nếu ngừng điều trị thì bệnh có khẳ năng tái phát.
(2) Khi các khe đốt của trọng điểm đã chuyển động bình thường mặc dầu các triệu chứng cơ năng chưa hết thì thôi điều trị, vì một thời gian sau triệu chứng cơ năng cũng dần dần tan biến do khả năng tự điều chỉnh của cơ thể.
(3) Khi các khe đốt của trọng điểm đã chuyển động mà vẫn tiếp tục thao tác trị bệnh thì sự dính cứng sẽ trở lại, các triệu chứng cơ năng sẽ lại lúc ẩn lúc hiện bất thường, bệnh dây dưa không dứt hẳn.
Tóm lại khi thao tác đã tách được sự dính cứng của đốt sống là ngưỡng để kết thúc quá trình điều trị. Cần tránh sự lầm lẫn trong khi trị bệnh thì hiệu quả mới đạt được cao.

IX. NGUYÊN TẮC ĐIỀU NHIỆT

Phương pháp Tác động cột sống quy định sự biến đổi nhiệt độ da trên cơ thể người bệnh là cơ sở để chẩn bệnh, trị bệnh và phòng bệnh. Do đó việc điều hòa nhiệt độ da trên cơ thể người bệnh để trị bệnh được nêu thành một nguyên tắc trong khi thăm dò, tiên lượng và theo dõi sự tiến triển của bệnh.
Sau đây là một số đặc điểm về điều nhiệt trên cơ thể người bệnh:
1) Các vùng trên cơ thể người bệnh có nhiệt độ da thay đổi quá cao hay quá thấp đều biến chuyển trong phạm vi 20 giây khi thấy thuốc đã áp dụng thủ thuật thăm dò, hoặc tác động trị bệnh tại trọng điểm trên cột sống.
2) Nhiệt độ da thay đổi thuận chiều, nghĩa là nếu vùng đó có nhiệt độ quá cao thì sẽ giảm xuống, quá thấp thì sẽ nóng lên. Sự thay đổi này có thể nhận biết được qua cảm giác bàn tay của thầy thuốc hay dùng máy đo nhiệt độ da.
3) Nếu gặp trường hợp thao tác mà nhiệt độ da không thay đổi thì có thể do một trong những nguyên nhân sau:
a) Tác động chưa đúng trọng điểm.
b) Thao tác chưa đúng thủ thuật.
c) Chưa tuân thủ đúng các nguyên tắc đã quy định.
d) Do cơ thể người bệnh vì một nguyên nhân nào đó không còn thích nghi được với Tác động cột sống nữa ( như cơ thể quá suy nhược, bị nhiễm độc…)
Vì vậy trong khi thao tác trị bệnh, thầy thuốc phải luôn luôn thăm dò nhiệt độ tại trọng khu, vùng nhiệt độ tương ứng và kiểm tra thao tác trị bệnh.
CHÚ Ý: Từ những đặc điểm trên, Phương pháp Tác động cột sống quy định rằng khi tác động mà không điều hòa được nhiệt độ thì tuyệt đối không được thao tác.
4) Trong quá trình điều trị, nhiệt độ da của vùng quá cao hoặc quá thấp cũng đều tiến triển theo chiều thuận trong cả quá trình điều trị, ngày một tốt dần lên.
Nhưng cũng có trường hợp nhiệt độ chỉ thay đổi ngay khi thao tác, hoặc tác dụng chỉ kéo dài thêm một vài tiếng đồng hồ sau. Những trường hợp này có thể do:
a) Người bệnh chưa nhận được một liều lượng tác động thích hợp, có thể thời gian còn quá ít, hoặc cũng có thể do thủ thuật thiếu chính xác, chưa đúng với quy định của phương pháp.
b) Cũng có trường hợp nhiệt độ thay đổi thuận chiều, nhưng chưa trở lại bình thường, dừng lại ở trạng thái bệnh lí trong một thời gian dài.
Trường hợp này phần lớn do có điểm đối động ngoài phạm vi cột sống có liên quan tới trọng điểm chưa được giải tỏa.
Phương pháp Tác động cột sống trị bệnh căn cứ vào đặc điểm trên đây mà đề ra phương thức theo dõi sự tiến triển của bệnh.
CHÚ Ý: Cần phải căn cứ chủ yếu vào sự thay đổi của nhiệt độ da để đánh giá sự tiến triển của bệnh, còn các triệu chứng cơ năng chỉ là phối hợp đánh giá mà thôi.

ThS – LY Nguyễn Đình Thảo (Thảo Sen Nam)
sennam.thao@gmail.com Điện thoại: 0918 260 196
FB: Tác động cột sống Việt Nam

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *