Bài thuốc chữa tiểu đường cho người cao huyết áp

Phần 5 trong Câu chuyện Đông Y (Tập 5) – Tác giả Đỗ Đức Ngọc

Ngoài ra trong nhân gian còn nhiều bài thuốc chữa tiểu đường gia truyền, nếu đem phân tích tính dược theo tây y hay đông y cũng đều có giá trị để chữa bệnh tiểu đường, nhưng tại sao lại không thống nhất một toa mà phải nhiều toa như vậy thì làm sao bệnh nhân bị tiểu đường như chúng ta biết cách dùng.

Thật ra đông y có một phương pháp chẩn mạch bệnh và viết toa có nguyên tắc. Mạch bệnh nào cần phải chữa ưu tiên thì phải dùng vị thuốc tương ứng với bệnh có hàm  lượng  nhiều  hơn  gọi  là  chọn  quân  (=vua,  vị  thuốc chính), vị thuốc nào có công năng giúp vị thuốc chính được phát huy tính dược tối đa cho mạnh hơn lên thì được chọn làm thần, vị thuốc nào dùng để phò tá gia giảm sức công phá hay độc hại của thuốc được chọn làm , vị thuốc nào dẫn thuốc đến nơi bệnh để chữa được chọn làm sứ giả gọi là sứ thì hàm lượng thuốc ít hơn. Khi bài thuốc được viết ra, người ta sẽ đọc tên tắt của vị thuốc từ vị thuốc chính trước. Thí dụ như bài thuốc Lục vị địa hoàng gồm có địa, linh, đơn, tả, thù, dược.

Sau đây chúng ta sẽ tham khảo đến những bài thuốc kinh nghiệm khác cũng dùng để chữa bệnh tiểu đường và biến chứng, để tiện việc nghiên cứu được trọn bài thuốc, chúng tôi không ngại lập đi lập lại những phân tích đông tây y của các vị thuốc có trong bài thuốc để tránh mất thời giờ của đọc giả phải tìm lại những vị thuốc đã phân tích ở những trang trước:

Bài thuốc chữa tiểu đường do tâm nhiệt, khát uống nhiều, cao áp huyết:

Sa sâm, Thiên môn, Mạch môn, Hoài sơn, Bạch biển đậu, Ý dĩ, mỗi vị 12g, Tâm sen 8 g.

Bỏ chung đổ 4 chén nước sắc cạn còn gần 1 chén (8 phần 10 chén), mỗi ngày uống một thang cho đến khi người khỏe mạnh, đo lượng đường trong máu xuống mức bình thường thì ngưng.

Công dụng của sa sâm:

Phân tích theo tây y:

Tên khoa học Glehnia littoralis F.Schmidt ex Miq. Rễ có chứa panaxydol, furocoumarin, tinh dầu, các loại acid triterpenic, có tác dụng giảm đau, hạ sốt, điều chỉnh phục hồi co bóp của tim mạch loạn nhịp, làm tăng áp huyết, tăng hô hấp khi cắt dây thần kinh phế vị tác dụng trên vẫn tồn tại. Chất polysaccharide của Sa sâm Bắc giống như hydrocortisone có tác dụng ức chế miễn dịch.

Phân tích theo đông y:

Sa sâm Bắc vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn vào hai kinh phế vị, có tác dụng dưỡng âm, thanh phế, phế nhiệt ho khan lâu ngày, lao phổi đờm lẫn máu, ích vị, sinh tân, khử đờm.

Công dụng của Thiên môn:

Phân tích theo tây y:

Tên khoa học Asparagus cochinchinensis (Lour.) Merr., Hoạt chất chính là saponin steroid, sau khi thủy phân cho các đường glucose, rhamnose và xylose. Rễ củ thiên môn chứa polysaccharide, các amine tự do như asparagin. Thân và lá chứa rutin, glycoside. Các hoạt chất này có tác dụng kháng khuẩn, ức chế men dihydrogenase của tế bào bệnh bạch cầu lympho cấp tính, tế bào bệnh bạch cầu mạn tính và tế bào bệnh bạch cầu đơn nhân. Dịch chiết thiên môn có tác dụng kích thích sự hoạt động của interferon.

Phân tích theo đông y:

Tên khác là Thiên môn đông, dây tóc tiên, có vị ngọt, đắng, tính đại hàn, vào các kinh phế thận, tư âm, nhuận táo, thanh phế, lợi tiểu, sinh tân, hóa đờm tức ở phổi, chữa ung thư phổi, hư lao, ho, thổ huyết, nhiệt bệnh, tiêu khát đái đường, tân dịch hao tổn, táo bón. Công dụng của Mạch môn:

Phân tích theo tây y:

Tên khoa học Ophiopogon japonicus (L.f.) Ker.- Gawl. Tên khác là Mạch môn đông, tóc tiên, có 5 loại glucoside tác dụng hạ đường huyết, chống viêm cấp tính và mãn tính, gây teo tuyến ức, ức chế tương đối khá trên phế cầu, tụ cầu vàng.

Phân tích theo đông y:

Mạch môn có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng nhuận phế, chữa ho khan, viêm họng, lao phổi nóng âm ỉ về chiều, sốt cao, tâm phiền khát nước, cầm máu như máu cam, thổ huyết, làm mát tim, thanh nhiệt, chữa khó ngủ, lợi tiểu, thiếu sữa, điều hòa nhịp tim, táo bón, lở ngứa, bệnh gan, thận và ruột.

Công dụng của hoài sơn:

Phân tích theo tây y:

Tên khoa học Dioscorea persimillis Prain et Burkill, Hoài sơn chứa 63,25 % tinh bột, 6,70% chất đạm, 0,45% chất béo có giá trị dinh dưỡng qúy đứng sau gạo và bắp ngô, ngoài ra nó có chứa thành phần mucin là một protein nhớt allantoin, các acid amine arginin, cholin và men maltase, men này có khả năng thủy phân đường rất lớn, hồi phục chức năng co bóp của nhu động ruột để tăng hấp thụ và chuyển hóa đường.

Phân tích theo đông y:

Khoai mài  ở tiệm thuốc bắc gọi là Hoài sơn hay Sơn dược, vị ngọt, tính bình, vào các kinh phế, tỳ, vị, thận để chữa tỳ vị hư nhược, thiếu máu, ăn uống kém tiêu hóa, viêm ruột kinh niên, tiêu chảy lâu ngày không khỏi, phổi yếu, ho, sinh tân dịch, tăng thể lực, sinh cơ bắp, nước miếng, bổ thận chữa di tinh, đái đường, bạch đới, chống khát nước, đổ mồ hôi trộm.

Công dụng của bạch biển đậu:

Phân tích theo tây y:

Tên khoa học Dolichos lablab L., tên khác là Đậu ván trắng, chứa 82.4% nước, 4.5% protein, 0.1% lipid, 1% chất vô cơ, Ca, P, Fe, Vit.C, B1, Cu, Zn, Ni, V, As, Mg, Sn, Ba, Ti, Mn, Sr, Al, Ag., các Pectic polysaccharide, đặc biệt có hemaaglutinin làm ngưng kết hồng cầu, kéo dài thời gian đông máu, làm hạ sốt, kiện vị, giải co thắt cơ trơn.

Phân tích theo đông y:

Đậu ván trắng có vị ngọt, tính hơi ôn, vào 2 kinh tỳ, vị, trừ thấp, tiêu thử, hòa trung. Qủa non đậu ván trắng là món ăn giầu chất bổ, qủa già cho hạt làm thuốc bồi bổ cơ thể, chữa tỳ vị hư nhược, chán ăn, tiêu chảy lâu ngày, đau bụng nôn mửa, đầy bụng khó tiêu, sốt cao, co giật, giải nhiệt độc.

Công dụng của ý dĩ:

Phân tích theo tây y:

Tên khoa học Coix lacryma-jobi L. tên khác là dĩ mễ, bo bo. Chứa 50-79% tinh bột, 16-19% protein, 39.8 ppm sắt, dầu béo coixenolid, lipid, glypolipid, thiamine, acid amine, adenosine. Có tác dụng đối với cơ vân và đầu cuối dây thần kinh vận động, kéo dài thời gian gây ngủ, ức chế biên độ co bóp tim mạch, hoạt chất coixenolid chống ung thư.

Phân tích theo đông y:

Ý dĩ có vị ngọt, nhạt, tính mát, vào các kinh tỳ, phế, thận để bổ phế kiện tỳ, thanh nhiệt, lợi thấp, chỉ tả, bài mủ, chữa rối loạn tiêu hóa, phù thủng, bí tiểu, ung thư ruột, phong thấp lâu ngày không khỏi, gân co quắp khó cử động. Ý dĩ hầm với hạt sen và thịt nạc là món ăn cho những người cơ thể gầy yếu suy dinh dưỡng. Nước sắc Ý dĩ 20g cho 600cc nước nấu cạn còn 200cc uống liên tục mỗi ngày để chữa đi tiểu có sạn, uống đến khi nào tiểu bình thường thì thôi.

Chống chỉ định:

Người có bệnh đau bụng do âm hư nhiệt trướng, táo bón, háo khát không dùng được.

Công dụng của sen:

Phân tích theo tây y:

Sen có tên khác là liên, tên khoa học là Nelumbo nucifera Gaertn.

Tâm sen có chất liensinin làm hạ áp huyết và một loại alkaloid  khác  không  kết  tinh  chuyển liensinin  dưới  dạng amoni bậc 4 có tác dụng hạ áp huyết kéo dài lâu hơn, chống kích  động  loạn  thần  kinh  gây  hung  dữ  tương  đương  với amineazin trong điều trị tâm thần phân liệt mà không có độc tố như thuốc amineazin, tâm sen cũng có tác dụng an thần nhưng yếu hơn tác dụng của lá sen. Nhị sen có tác dụng ức chế tụ cầu vàng.

Lá sen có chất nuciferin tác dụng ức chế thần kinh trung ương chống viêm, giảm đau, ho, an thần kéo dài giấc ngủ, tăng thành phần sóng chậm delta, giảm thành phần sóng nhanh béta, tăng trương lực cơ, giải co thắt cơ trơn, ức chế loạn nhịp tim gây ra bởi calci clorid vì nó làm tăng ngưỡng kích thích tâm trương và tăng giai đoạn trơ của cơ tâm nhĩ và tâm thất, chống choáng, chữa chảy máu như đại tiểu tiện ra máu, xuất huyết dưới da, chân răng chảy máu.

Phân tích theo đông y:

Tâm sen gọi là liên tâm, có vị đắng, tính lạnh, vào kinh tâm, có tác dụng thanh tâm hỏa, điều nhiệt, chữa tâm phiền muộn người hâm hấp khó chịu, ít ngủ, khát, thổ huyết.

Lá sen gọi là liên diệp có vị đắng, tính mát vào 3 kinh can tỳ vị làm thanh thử lợi thấp, chữa tức ngực nóng sốt, tán ứ,chỉ huyết.

Hạt sen gọi là liên nhục, gương sen đã lấy quả là liên phòng, Hạt sen trắng (quả sen bóc bỏ vỏ là liên thạch) có vị ngọt, tính bình, vào 3 kinh tâm tỳ thận, có tác dụng bổ tỳ hư kém ăn, dưỡng tâm trị mất ngủ hồi hộp, cố tinh, chữa di mộng tinh, sáp trường (làm chặt ruột) chữa khí hư đi kiết lỵ.

Hoa sen có vị ngọt đắng, tính ấm làm an thần và cầm máu.

Tua sen bỏ hạt gạo ở đầu gọi là liên tu vị chát, tính ấm, vào 2 kinh tâm-thận, có tác dụng cố tinh, ích thận chữa di mộng tinh, thanh tâm trị mất ngủ, chỉ huyết cầm máu khi làm băng, thổ huyết.

Gương sen ngó sen  hay thân rễ là liên ngẫu, có vị đắng chát, tính mát, tác dụng như thuốc ngủ và lợi tiểu, thu liễm, cầm máu khi đại tiểu tiện ra máu, tử cung xuất huyết, bạch đới, chảy máu cam..

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *