Bài thuốc chữa tiểu đường do suy thận

Phần 6 trong Câu chuyện Đông Y (Tập 5) – Tác giả Đỗ Đức Ngọc

Bài thuốc chữa bệnh tiểu đường do suy thận

Đậu đen, Thiên hoa phấn (= rễ qua lâu) mỗi vị 50g, tán bột, uống chung với nước sắc đậu đen 30 g.

Công dụng của đậu đen:

Phân tích theo tây y:

Đậu đen có tên khoa học Vigna cylindrica (L.)Skeels, chứa 24,40% protein, 1,70% lipid, 53,30% glucid, 4% cellulose. Trong 100g đậu  có  5mcg  Vit.A,  0,5mg  Vit.B1, 0,21mg  Vit.B2,  1,8mg  Vit.PP,  8mg  Vit.C,  970mg  lysine, 310mg tryptophan, 1160mg phenylalanine, 56mg Ca, 354mg P,  6mg Fe.. Nó có tác dụng chống oxy hóa ở mức độ vừa phải, lợi tiểu.

Phân tích theo đông y:

Đậu đen có vị ngọt nhạt, tính bình mát, bổ gan thận, bổ huyết trừ phong, thanh thấp nhiệt, hạ khí, lợi tiểu, giải độc, tiêu khát.

Công dụng của thiên hoa phấn:

Phân tích theo tây y:

Thiên hoa phấn hay Qua lâu còn gọi là dưa trời, dưa núi, tên khoa học Trichosanthes kirilowi Maxim. Rễ tán bột dùng ngoài trị eczema, nước hãm rễ qua lâu rửa vết thương. Trong rễ qua lâu có chứa các protein như Karasurin A,B,C, có tính kềm mạnh dễ làm sẩy thai,  trichosanthin và TAP-29 có hoạt tính chống u bướu, virus kể cả HIV (Nghiên cứu của

Thorup John E CA,1996), các polysaccharide gồm glycose, galactose, fructose, manose, xylose làm hạ đường huyết và chống tăng đường trong máu.

Phân tích theo đông y:

Qua lâu có vị ngọt đắng tính mát, vào hai kinh phế vị,  tác  dụng  thanh  phế  nhiệt,  hóa  đàm,  nhuận  phế,  hoạt trường. Rễ qua lâu có vị ngọt chua, tính mát, giáng hỏa sinh tân dịch, lợi sữa, chữa nhiệt bệnh, tiêu khát, vàng da, đau vú, trĩ dò, lở ngứa, sưng tấy.

Bài thuốc chữa tiêu khát tiểu đường, suy thận, biến chứng mắt mờ đục thủy tinh thể

Thục địa, Hoài sơn mỗi vị 20g, Đơn bì, Kỷ tử, Thạch hộc, mỗi vị 12g, Sơn thù, Sa sâm, Rễ qua lâu mỗi vị 8g.

Sắc uống mỗi ngày một thang. Khi đo lượng đường ổn định thì ngưng.

Công dụng của thục địa:

Phân tích theo tây y:Thục địa là sinh địa đã sao chế chín, tên gốc là địa hoàng, tên khoa học Rehmannia glutinosa (Gaertn.) Libosch.. Địa hoàng có hoạt tính chặn miễn dịch, hạ đường máu nhờ tác dụng của chất iridoid glycoside A,B,C,D, một mặt kích thích tiết insulin, một mặt giảm glycogen trong gan. Trong Địa hoàng có 3 phenethyl alcohol glycoside có hoạt tính ức chế men aldose reductase để ức chế sự hình thành đục thủy tinh thể gây ra bởi biến chứng của bệnh tiểu đường.

Phân tích theo đông y: Sinh địa có vị ngọt, đắng, tính mát, vào 4 kinh gan, tim, thận, tiểu trường để bổ âm, thanh nhiệt, sinh huyết dịch, mát máu, cầm máu, chữa chứng bệnh âm hư hỏa vượng, triều nhiệt, khô khát nóng uống nước nhiều, tiểu đường, thiếu máu, xuất huyết nội ngoại, cơ thể suy nhược.

Sinh địa chế chín gọi là Thục điạ có vị ngọt, mùi thơm, tính ấm vào 3 kinh tâm, can, thận, chữa âm hư ở gan thận làm đau nhức lưng gối, chóng mặt ù tai, huyết suy, chứng nóng âm ỉ, cơ thể yếu mệt, ho suyễn, tiêu khát tiểu đường, bổ huyết, bổ thận, sinh tinh, làm sáng mắt đen râu tóc, cơ thể tráng kiện.

Công dụng của hoài sơn:

Phân tích theo tây y: Tên khoa học Dioscorea persimillis Prain et Burkill, Hoài sơn chứa 63,25 % tinh bột, 6,70% chất đạm, 0,45% chất béo có giá trị dinh dưỡng qúy đứng sau gạo và bắp ngô, ngoài ra nó có chứa thành phần mucin là một protein nhớt allantoin, các acid amine arginin, cholin và men maltase, men này có khả năng thủy phân đường rất lớn, hồi phục chức năng co bóp của nhu động ruột để tăng hấp thụ và chuyển hóa đường.

Phân tích theo đông y: Khoai mài  ở tiệm thuốc bắc gọi là Hoài sơn hay Sơn dược, vị ngọt, tính bình, vào các kinh phế, tỳ, vị, thận để chữa tỳ vị hư nhược, thiếu máu, ăn uống kém tiêu hóa, viêm ruột kinh niên, tiêu chảy lâu ngày không khỏi, phổi yếu, ho, sinh tân dịch, tăng thể lực, sinh cơ bắp, nước miếng, bổ thận chữa di tinh, đái đường, bạch đới, chống khát nước, đổ mồ hôi trộm.

Công dụng của đơn bì:

Phân tích theo tây y: Tên khoa học Paeonia suffruticosa Andr., tên khác là Mẫu đơn bì. Rễ mẫu đơn chứa alkaloid, saponin và một ít chất   thuộc   nhóm   anthocyanin,  tinh   dầu.   Vỏ   rễ chứa acetophenon,  pantagaloylglucose… Có  tác  dụng  chống  co thắt, chống viêm, giảm đau, ức chế kết tập tiểu cầu, ức chế đông máu trong mạch, kháng tiêu fibrin, chống độc hại gan gây ra bởi carbon tetraclorid, ức chế aldose reductase của thủy tinh thể trong biến chứng tiểu đường sang thận, võng mạc và thần kinh trầm cảm, hạ sốt, chống co giật. Chất Paeoniflorin có tác dụng chống loét bao tử do stress, làm giãn mạch ngoại biên để hạ áp huyết, điều trị rối loạn nhận thức, sa sút trí tuệ ở ngườigià.

Phân tích theo đông y: Mẫu đơn vị cay, đắng, mùi thơm, tính bình vào các kinh tâm, can, thận. Có tác dụng trấn kinh, giảm đau, nóng sốt âm về chiều và đêm, không ra mồ hôi, phát sốt do huyết sưng ứ, nhức đầu, đau lưng, đau khớp, đau bụng kinh, trị thoát mạch, viêm rễ thần kinh, co giật, co thắt cơ bắp chân (chuột rút), sa sút trí tuệ, chữa bệnh gan siêu vi, cổ trướng, viêm da dị ứng lở loét.

Chống chỉ định: Phụ nữ có thai không được dùng, có tác dụng gây vô sinh, sẩy thai.

Công dụng của kỷ tử:

Phân tích theo tây y: Tên khoa học   Lycium chinense Mill.Trái của cây câu kỷ gọi là kỷ tử mầu đỏ cam, trong trái có chứa tinh dầu, acid  béo,  betain,  zeaxanthin,  physalien,  chứa  8-10%  acid amine trong đó  chừng một nửa dạng tự  do  gồm có  acid aspartic, prolin, acid glutamic, alanin, arginin, serin, và 9 acid amine khác.

Những người già trên 60 tuổi hoặc những người bị bệnh ung thư, nếu ăn sống mỗi ngày 5g hạt kỷ tử khô trong 10 ngày liên tiếp thì hoạt độ men superoxid dismitase (SOD) tăng  48%,  Hemoglobin (Hb)  tăng  12%  và  Lipid  peroxyd giảm 65%, nó làm tăng cường hệ miễn dịch đã bị suy giảm ở người già, điều chỉnh được tỷ lệ chuyển hóa của nguyên bạch cầu (leukocytoblast), globulin miễn dịch trong huyết thanh như IgG, IgA và IgM đều tăng, nước sắc kỷ tử uống liên tục mỗi  ngày  trong  4  tuần  lễ  thì  cholestérol  huyết,  beta lipoprotein và triglyceride đều giảm, lượng bạch cầu tăng và ngăn ngưà hiện tượng giảm bạch cầu do cyclophosphamid gây nên trong điều trị ung thư.

Phân tích theo đông y: Kỷ tử có vị ngọt tính bình, vào hai kinh can thận, có công dụng dưỡng gan, sáng mắt, bổ phế thận, ích tinh, nó được coi là vị thuốc bổ toàn thân dùng cho cơ thể suy nhược, tinh huyết bất túc, có tác dụng bổ huyết, ức chế tế bào ung thư.

Công dụng của thạch hộc: 

Phân tích theo tây y: Tên khoa học Dendrobium nobile Lindl.,tên khác là Hoàng thảo cẳng gà. Có chứa hoạt chất dandrobin tương tự về mặt định tính như strychnin làm giảm đau, hạ nhiệt, làm tăng đường huyết vừa phải, chống khối u phổi, buồng trứng và bệnh bạch cầu.

Phân tích theo đông y: Thạch hộc vị hơi ngọt, mặn, tính hơi lạnh vào 3 kinh phế, vị, thận. Giúp bao tử tăng tiết dịch, dưỡng âm chữa sốt nóng, cổ khô khát, chữa đau lưng chân tay nhức mỏi, làm thuốc bổ ngũ tạng âm, sinh tân dịch, chữa hư lao, ra mồ hôi trộm, di tinh, đau bao tử, ợ chua, gầy yếu kém ăn, thị lực giảm.

Công dụng của sơn thù du:

Phân tích theo tây y: Tên khoa học Cornus officinalis Sieb. Et Zucc. Qủa có chứa moronisid, methylmoronisid, swerosid, loganin, acid ursolic, galic, amine, Vit.A, saponin. Lá có lomgicerosid. Có tác dụng chữa suy nhược cơ thể, cao áp ở người có bệnh thận, bệnh tim, thiếu máu, loét tá tràng, bao tử, xơ gan, viêm cầu thận mãn tính, khí hư, đái đường.

Phân tích theo đông y: Sơn thù du vị chua, tính bình, vào phần khí của hai kinh can, thận, có tác dụng sáp tinh, bền khí, thông khiếu, giữ không ra mồ hôi, chữa phong hàn, tê thấp, đau đầu, lưng, mỏi gối, ù tai, thận suy, tiểu nhiều, di tinh, rối loạn kinh nguyệt.

Chống chỉ định: Người hỏa thịnh có bệnh thấp nhiệt không nên dùng.

Công dụng của sa sâm:

Phân tích theo tây y: Tên khoa học Glehnia littoralis F.Schmidt ex Miq. Rễ có chứa panaxydol, furocoumarin, tinh dầu, các loại acid triterpenic, có tác dụng giảm đau, hạ sốt, điều chỉnh phục hồi co bóp của tim mạch loạn nhịp, làm tăng áp huyết, tăng hô hấp khi cắt dây thần kinh phế vị tác dụng trên vẫn tồn tại. Chất    polysaccharide    của    Sa    sâm    Bắc    giống     như hydrocortisone có tác dụng ức chế miễn dịch.

Phân tích theo đông y: Sa sâm Bắc vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn vào hai kinh phế vị, có tác dụng dưỡng âm, thanh phế, phế nhiệt ho khan lâu ngày, lao phổi đờm lẫn máu, ích vị, sinh tân, khử đờm.

Công dụng của thiên hoa phấn:

Phân tích theo tây y: Thiên hoa phấn hay Qua lâu còn gọi là dưa trời, dưa núi, tên khoa học Trichosanthes kirilowi Maxim. Rễ tán bột dùng ngoài trị eczema, nước hãm rễ qua lâu rửa vết thương. Trong rễ qua lâu có chứa các protein như Karasurin A,B,C, có tính kềm mạnh dễ làm sẩy thai,  trichosanthin và TAP-29 có hoạt tính chống u bướu, virus kể cả HIV (Nghiên cứu của Thorup John E CA,1996), các polysaccharide gồm glycose, galactose, fructose, manose, xylose làm hạ đường huyết và chống tăng đường trong máu.

Phân tích theo đông y: Qua lâu có vị ngọt đắng tính mát, vào hai kinh phế vị,  tác  dụng  thanh  phế  nhiệt,  hóa  đàm,  nhuận  phế,  hoạt trường. Rễ qua lâu có vị ngọt chua, tính mát, giáng hỏa sinh tân dịch, lợi sữa, chữa nhiệt bệnh, tiêu khát, vàng da, đau vú, trĩ dò, lở ngứa, sưng tấy.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *