Bệnh cột sống: Kinh nghiệm điều trị bệnh cột sống – Hoàng duy Tân

Bài 4: Kinh nghiệm điều trị bệnh cột sống

Hoàng Duy Tân

Có nhiều loại bệnh về cột sống: viêm cột sống, thoái hóa, thoát vị đĩa đệm, có gai…Chúng tôi trích giới thiệu một số kinh nghiệm điều trị của một số danh y Trung quốc có hiệu quả tốt trên lâm sàng để quý vị cùng tham khảo.

ĐỐT SỐNG VIÊM PHÌ ĐẠI Tăng Sinh Tính Tích Chuỳ Viêm

Trần XX, nữ, 40 tuổi, cán bộ. Trước đây bị viêm xương sống và gai đốt sống thắt lưng. Nửa đầu năm 1978, vì công việc, thường phải lội nước, trèo núi, sớm đi tối về, lao lực quá độ, về lâu về dài thấy lưng đùi đau nhức, đã điều trị nhiều nhưng không khỏi, trái lại càng ngày càng nặng, hoạt động không còn linh lợi nữa. Tháng 11/1978 về nằm viện điều trị ở Ngô Châu, chụp X quang, bệnh vẫn như trước, chữa Đông Tây y hơn một tháng không có hiệu quả, cơ đùi có dấu hiệu bắt đầu teo, chuyển viện, đến khoa xương điều trị, dùng châm cứu, Đông dược không khỏi, tự ý đề nghị ra viện. Sau khi xuất viện, đã mời nhiều thầy chữa trị , liên tục không ngừng nhưng bệnh tình vẫn không thấy chuyển biến , trái lại, càng đau hơn. Đến ngày 21/2/1979 người nhà mới đến xin điều trị. Vì bệnh nhân không đi được nên phải đến nhà điều trị. Khám thấy bệnh nhân nằm tại chỗ, vận động rất khó khăn. Người bệnh tự thấy phía trước và sau lưng, đùi đau tê cứng, toàn thân nặng nề, gần một tháng nay, vùng lưng, khớp háng và phía ngoài đùi đau, chườm nước nóng thì dễ chịu, giảm đau, mạch trầm trì vô lực, lưỡi lạt, rêu trắng, không khát. Chẩn đoán là Thận kinh hư nhược, tổn thương do lao nhọc. cách trị là bổ Tỳ Thận, khứ thấp thông lạc, điều kinh hoạt huyết. Dùng Thiên cân bạt hợp tễ (Thiên cân bạt 30g, Đỗ trọng 12g, Thục địa 12g, Bạch thược 12g, Xuyên mộc qua 12g, Xuyên ngưu tất 12g, Ích mẫu thảo 30g, A giao 12g, Phục linh 15g, Thủ ô 18g, Dĩ nhân 12g, Câu đằng 15g, Phòng kỷ 9g, Đảng sâm 21g, Lộc hàm thảo 30g, Đại lực vương 12g, Đâu liễu bổng 30g), mỗi ngày uống 1 thang, bên ngoài đắp Lý cốt hồng cao (Mỡ heo 360g, Chương não 60g, Xuyên bạch lạp 180g, Tùng hương 90g, Mai phiến 28gGiáng hương 28g, Linh tiên 28g Một dược 28g, Nhi trà 28g, Nhũ hương 28g Huyết kiệt 28g. Trước tiên nghiền bột Giáng hương, Linh tiên, Nhũ hương, Một dược, Huyết kiệt. Cho mỡ heo, bạch lạp (sáp ong), Tùng hương vào nồi nấu tan. Cho các vị thuốc vào trộn đều, bôi đắp chỗ bệnh, mỗi ngày đắp 1 lần). Phối hợp xoa bóp, bệnh chứng giảm nhẹ. Sau 28 ngày điều trị, các triệu chứng lâm sàng hết, lưng đùi hoạt động bình thường (Trần Thiết – tỉnh Quảng Tây – Trích trong ‘Thiên gia diệu phương’).

ĐỐT SỐNG VIÊM PHÌ ĐẠI Tăng Sinh Tính Tích Chuỳ Viêm 增 生 性 脊 椎 炎

Lô XX, nam, 54 tuổi, cán bộ. Bệnh nhân bị đau lưng, chân 2 năm, gần đây 1 tháng đau tăng; ngày 29/10/1978 đến khám bệnh, số bệnh án 6216, đo huyết áp 130/80mmHg, mạch 78 lần/phút, nhiệt độ 36oC, đại tiểu tiện bình thường, xét nghiệm máu và độ lắng máu đều bình thường. Bệnh viện chẩn đoán là ‘Xương sống tổn thương,’ chụp X quang thấy đốt xương thắt lưng 2, 3, 4, 5 có hình như khúc gỗ, không thấy viền, bị phì đại, chẩn đoán là ‘Viêm xương sống tăng sinh’. Điều trị thuốc Tây không khỏi, xin hội chẩn điều trị bằng Đông y. Bệnh nhân đau vùng bên dưới lưng, không thể ngồi lâu được, nếu ngồi xuống thì lưng đùi đau cứng không thể đứng lên, ngồi xổm mà đứng lên thì đau cũng như vậy, nằm ngửa lật người thì cơn đau tăng thêm, ăn uống bình thường. Thân thể gầy trơ xương, sắc mặt tối, trệ, lưỡi đỏ thẫm, rêu mỏng trắng, mạch trầm huyền. Chẩn đoán là hàn thấp ứ huyết trở trệ xương cốt, kinh lạc, khí huyết vận hành bị ngăn trở.Dùng Thận trước hiệu linh đơn (Bạch truật 15g, Phục linh 24g, Cam thảo 9g, Chế nhũ hương 3g, Chế một dược 3g, Đơn sâm 12g, Đương quy 12g, Thổ nguyên 9g, Cốt toái bổ 12g, Đỗ trọng 9g, Mộc qua 9g, Hoài ngưu tất 12g, Tục đoạn 12g, Tam thất phấn 4,5g, Kim tiền bạch hoa xà 1 con, Ngô công 3 con, Đào nhân 9g, Hồng hoa 9g. sắc uống), uống 9 thang hết đau, ngày 5/3/1978 ra viện. Sau khi xuất viện lại đến tái khám lần thứ hai, dùng bài trên cho uống tiếp 6 thang nữa. Xem xét lại bệnh này, uống tổng cộng 15 thang thì ngừng thuốc, trở lại công tác đã hơn 2 năm, chưa thấy tái phát.

Bài này dùng điều trị 110 ca viêm đốt sống phì đại dẫn đến lưng và đùi đau, hiệu quả khỏi bệnh là 96,4% (Lưu Thiếu An – tỉnh Quán Châu – Trích trong ‘Thiên gia diệu phương’).

ĐỐT SỐNG LƯNG PHÌ ĐẠI Yêu Chuỳ Cốt Chất Tăng Sinh – 腰 椎 骨 質 增 生

Triệu XX, nam, 40 tuổi. Khám ngày 15/4/1970. Bị bệnh hơn 2 năm, chủ yếu thấy lưng đau nặng, không co duỗi được, sắc mặt xanh tím, miệng môi tím, chất lưỡi đỏ sẫm, rêu trắng, gầy ốm, tinh thần đau khổ, buồn phiền, rên rỉ, mạch trầm hoãn, mạch bộ xích Sáp. Tây y kiểm tra chẩn đoán là xương sống thắt lưng tăng sinh. Chứng này do phong hàn thấp tà xâm nhập kinh lạc vào gân xương thành chứng ‘cốt tý’. Chẩn đoán là phong hàn thấp tà xâm nhập gân xương.Phép trị cần bổ huyết, ôn kinh hoạt lạc. Dùng Gia giảm ô quế tứ vật thang (Đương quy 15g, Xuyên khung 9g, Xích thược 12g, Thục địa 12g, Quế chi 9g, Ô xà 9g, Nhũ hương 6g, Một dược 9g, Đơn sâm 15g, Cam thảo 6g, Tô mộc 6g . Sắc uống mỗi ngày 1 thang). Sau khi uống 12 thang, hết đau thắt lưng, các chứng khác hơi giảm. Tiếp tục uống 8 thang, sức khoẻ phục hồi. Để củng cố kết quả điều trị, dùng phương trên, thêm Giápkhương 9g, Tam thất 12g, chế thành hoàn uống. Tất cả thuốc tán thành bột, trộn với mật làm thành hoàn, mỗi hoàn 9g, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 hoàn. Người bệnh uống 1 liều thuốc hoàn, làm việc trở lại.

Bàn luận: Bệnh xương sống thắt lưng tăng sinh là một bệnh mãn tính, triệu chứng chính là thắt lưng đau. Theo Đông y bệnh do phong hàn thấp tà xâm nhập vào gân cốt, lưu lại làm cho vinh vệ không vận hành, lâu ngày thành chứng ‘Cốt tý’. Phép trị cần bổ huyết thông lạc, ôn kinh tán hàn, dùng Ô quế tứ vật thang gia giảm, dược chứng tương hợp, hợp thuốc mà khỏi bệnh. Trong phương dùng Nhũ hương, lấy vị đắng để bổ Thận, dùng vị cay để ôn thông 12 kinh, khứ phong, thư cân, hoạt huyết, điều khí; Một dược vị đắng, tính bình, vào 12 kinh, để tán kết khí, thông trệ huyết; Đơn sâm phá huyết cũ sinh huyết mới; Tô mộc hành huyết khứ ứ, khiến cho tà bị đuổi, huyết được phấn chấn, vinh vệ được lưu thông đều hoà, các vị phối hợp đạt được hiệu quả nhanh, bệnh lâu ngày được trừ. Trong thuốc hoàn, thêm Giáp (Can) khương, lấy vị đắng để ôn bổ Thận, phá ứ huyết; Tam thất vị ngọt, đắng, tính hơi ôn, có tác dụng tán huyết giảm đau, uống dần dần để củng cố kết quả điều trị (Tăng Kiều – tỉnh Hắc Long Giang – Trích trong ‘Thiên gia diệu phương’).

XƯƠNG SỐNG THẮT LƯNG PHÌ ĐẠI Phong Thấp Tính Yêu Chuỳ Phì Đại – 風 濕 性 腰 椎肥 大

Nông XX, nam, 46 tuổi. Làm việc từ nhỏ, gánh nặng bị đau lưng, lâu ngày, cảm thấy thường bị đau lưng. Chụp X quang thấy xương sống thắt lưng bị phì đại. Khám thấy mạch trầm huyền, rêu lưỡi trắng bẩn, chất lưỡi đỏ, đáy lưỡi có những gân xanh, lưng đau không cúi ngửa được. Chẩn đoán là phong thấp nhập vào xương, khí huyết bị trở trệ. Cách trị là truy phong khứ thấp tiêu phì. Dùng Tiêu phì tán (Đỗ trọng 9g, Tục đoạn 9g, Xích thược 9g, Quy vĩ 9g, Thổ miết trùng 6g, Tần giao 6g, Kim mao cẩu tích 9g, Diêu trúc tiêu 9g, Ngô công 3 con, Tam thất 3g, Miết giáp 9g, Chỉ xác 9g, Thanh trúc căn 3 thốn. Sắc uống mỗi ngày 1 thang), tổng cộng 20 thang, hết đau, hoạt động bình thường. Chụp X quang lại chẩn đoán cốt chất tăng sinh, do phải đi công tác, xin ra viện, tiếp tục uống 3 thang. Theo dõi 2 năm sau, không thấy tái phát chứng đau lưng. Đã dùng Tiêu phì tán (thang) trị 10 ca xương sống phì đại do phong thấp đều có kết quả tốt (Dương Phụ Canh – Hồ Bắc – Trích trong ‘Thiên gia diệu phương’).

HỘI CHỨNG CỘT SỐNG CỔ Cảnh Chuỳ Tổng Hợp Chinh 頸 椎 綜 合 征

1) Hồ XX, nam 42 tuổi, cán bộ. Khám ngày 5/4/1975. Hơn 1 năm nay cổ cứng, đau nhức, xoay cổ khó khăn, hai tay đau nhức, tê cứng, chóng mặt, đau lưng. Bản thân có tiền sử bị phong thấp. Năm 1974 do làm việc không cẩn thận bị chấn thương, sau đó cổ và lưng thường đau nhức, vận động khó, chóng mặt hoa mắt. Bệnh viện khám kiểm tra độ lắng máu là 56mm/giờ, chụp X quang, chẩn đoán viêm khớp xương sống cổ 4, 5, và đốt xương sống cổ 6 bị biến dạng, đốt sống cổ 5 trước đây bị thoái hoá, chụp lại lần thứ hai vẫn chưa khỏi, cho là khớp đốt sống cổ bị viêm và có gai, đề nghị phẫu thuậtđể giải quyết cho khỏi đau, bệnh nhân không đồng ý mổ, yêu cầu uống thuốc đông y. Hiện trạng cổ gáy cứng, khó hoạt động, tay trái teo cơ, yếu, sắc mặt không quang nhuận, dưới mắt nổi quầng đen, mạch Huyền Tế, chất lưỡi hơi đỏ, rêu lưỡi trắng. Bệnh do thận khí hư suy, hiệp với hàn thấp xâm nhập. Phép trị là ôn thông kinh mạch, tán hàn, bổ thận, trừ thấp, trừ bế kết, mạnh gân xương. DùngCảnh chuỳ thang (Hổ trượng 24g, Lộc cân 18g, Kỳ xà 15g, Tang ký sinh 24g, Xuyên mộc qua 9g, Dĩ nhân (sao) 30g, Nữ trinh tử 18g, Đỗ trọng 18g, Đảng sâm 18g, Tục đoạn 18g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang), phối hợp thuốc bôi ngoài: Kê cốt hương, Lưỡng diện châm, Biển bá diệp, Mao xạ hương, Hoàng bá, Quá giang long, Bội lan đều 680g (1 cân). Các vị nghiền bột trộn đều, dùng rượu chưng nóng đắp vào cổ và khớp vai, mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Điều trị 1 tháng, uống tổng cộng 20 thang, đắp 20 miếng thuốc, tự cảm thấy cổ bớt đau nhiều, các khớp cổ viêm cũng có chuyển biến, bắp thịt cánh tay trái dần dần nở lớn, di chuyển thấy linh hoạt hơn, hết váng đầu và đau lưng, tinh thần phấn chấn, đã công tác lại như thường, theo dõi hơn 2 năm không thấy tái phát.

Bàn luận: Hội chứng xương sống cổ, trên lâm sàng thường gặp loại bệnh ở đốt sống cổ hoặc ở cột sống cổ – tay. Triệu chứng chủ yếu là cổ khó hoạt động, lưng trên, vai, vùng trước ngực và vai, cánh tay, tay đau nhức. Trước đây, các phương pháp chữa bệnh này không có kết quả lắm. Theo lý luận Đông y, bệnh này có liên hệ đến thận, vì thận chủ xương, thận khí hư suy không sinh được tuỷ, nếu khí huyết bất túc lại thêm hàn thấp thừa cơ hư yếu xâm nhập vào, ngưng tụ ở cổ gáy, làm cho kinh lạc bị bế tắc, khí huyết không lưu thông được, không thông thì đau nhức... gây nên bệnh. Đối với chứng này phải nội ngoại kiêm trị (vừa uống thuốc bên trong, vừa đắp thuốc bên ngoài), sẽ đạt được hiệu quả cao (Chu Trác Phong – tỉnh Quảng Đông – Trích trong ‘Thiên gia diệu phương’).

2) Hoạn XX, nữ, 36 tuổi. Khám ngày 24/2/1976. Bị chứng chóng mặt, đau cổ 4 năm. Tiền sử 10 năm trước, sau khi sinh bị chứng chóng mặt, nôn mửa, phải nằm nghỉ hoặc uống nước gừng thì đỡ. Bốn năm gần đây, trước và sau khi hành kinh 7-10 ngày thì đầu đau , cổ nhức, lan xuống vai, tay, vùng ngực có cảm giác tê cứng (ma mộc), quay đầu sang một bên thì chóng mặt, ngẩng lên cúi xuống đầu cổ rất đau đớn, lúc đó phải nằm xuống, kèm theo mắt bị mờ, nhìn vật không rõ, tiểu nhiều lần, tinh thần uể oải, sắc mặt vàng tối, vẻ mặt đau khổ. Chụp X quang thấy xương sống cổ bị thoái hoá, lưỡi nhạt, mầu tối, mạch Trầm Tế bộ xích mạch yếu. Chẩn đoán là khí huyết hư suy, mạch lạc ứ trở. Cách điều trị là thông lạc hoá ứ, điều bổ khí huyết. Cho uống Thông hoá điều lý thang (Đan sâm 18g, Cát căn 18g, Quế chi 6g, Xích thược 12g, Đương quy 12g, Bạch chỉ 9g, Khương hoạt 12g, Hoàng kỳ 18g, Địa long 9g, Đại táo 18g, Chích cam thảo 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang). Uống hơn 40 thang. Ngày 9/4 khám lại thấy chứng chóng mặt, đau cổ hơi giảm, nhìn đỡ bị nhoè hơn, sắc mặt và thể lực chuyển biến tốt, ngực còn nặng, tay bên phải còn tê cứng. Phải dùng thuốc thêm thuốc điều lý bổ khí huyết, tăng thêm sức hoạt huyết hoá ứ, để trừ hết tà khí còn sót lại, dùng phương trên bỏ Cát căn, Bạch chỉ, Khương hoạt, Địa long, Đại táo, thêm Hồng hoa 6g, Xuyên khung 9g, Ngưu tất 12g, Nhũ hương 9g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Ngày 29/4 khám lại, các triệu chứng về cơ bản đã khỏi, cho dùng Qui tỳ thang điều bổ khí huyết để củng cố hiệu quả (Hồ Triệu Cơ – tỉnh Quảng Đông – Trích trong ‘Thiên gia diệu phương’).

3) Vương XX, nam, 48 tuổi, cán bộ. Tháng 5/1978 đến khám. Mấy năm gần đây hay bị chóng mặt, hoa mắt, cổ đau nhức, tay bên phải tê. Chụp ảnh xương sống cổ xác định xương sống cổ 3, 4, 5 có gai. Mười ngày gần đây bệnh nặng thêm, ngực đầy, miệng đắng, hai tay tê cứng, mất cảm giác, cúi xuống ngẩng lên khó khăn, uống thuốc Tây nhưng không khỏi. Khám thấy thân nhiệt, mạch đập và huyết áp bình thường, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày hoạt, mạch Hoạt, đốt xương cổ sống thứ 3-5 đè vào đau, tim phổi bình thường, gan lách sờ không thấy. Kiểm tra hệ thần kinh: không thấy có dấu hiệu hội chứng Ménière. Chẩn đoán là bệnh ở cột sống. Chứng này do Tỳ hư, đờm thấp, khí uất hoá hoả, ứ huyết ngăn trở kinh lạc. Dùng Cảnh chuỳ thang (Cát căn 30g, Bán hạ 12g, Quất hồng 12g, Vân linh 12g, Cam thảo 6g, Chỉ xác (sao) 12g, Trúc nhự 6g, Sinh từ thạch 20g, Ty qua lạc 9g, Câu đằng 15g, Xuyên khung 15g, Cúc hoa 12g, Chi tử (sao) 12g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang), uống tổng cộng 23 thang, các triệu chứng nêu trên đều tiêu hết. Theo dõi 2 năm chưa thấy tái phát (Cao Chí Quân – tỉnh Sơn Đông – Trích trong ‘Thiên gia diệu phương’).

thobangnao.com