Bệnh tiểu đường là gì? nguyên nhân và triệu chứng

Bệnh  tiểu  đường  là  một  loại  bệnh  thuộc  về  dinh dưỡng thường gặp ở lứa tuổi 40 trở lên, đông y gọi là bệnh Tiêu khát và Đái tháo đường. Dấu hiệu ở đàn ông, tự nhiên mập phì ở vai, cổ và ngực. Dấu hiệu ở phụ nữ tự nhiên béo phì ở háng, đùi, hoặc béo phì ở mặt, cổ và trên thân mình có vết rạn da mầu tía kèm theo huyết áp cao.

Nguyên nhân bệnh tiểu đường

Các nguyên nhân chủ yếu sau đây dẫn đến bệnh tiểu đường

1- Ăn nhiều chất ngọt, kẹo, bánh mứt, chocolat, trái cây đóng hộp, rượu, nước ngọt, thói quen uống nước nhiều.. tất cả những yếu tố trên làm tăng cân, nhưng ít vận động chân tay để chuyển hóa năng lượng dư thừa của cơ thể.

2- Do chấn thương sọ não, do đụng chạm tổn thương tủy sống, do thời kỳ thai nghén ăn dư thừa chất bột, chất đường, chất béo.

3- Do biến chứng của bệnh quai bị, thương hàn, bệnh lao.

4- Do xáo trộn tuyến nội tiết như bệnh cường giáp làm tăng calci gây ra bướu cổ.

5- Do bệnh ở tụy tạng thuộc tỳ không thu nạp chất ngọt được.

6- Do xáo trộn sự chuyển hóa của gan, trong gan có nhiều độc tố  như  rượu,  cà  phê,  thuốc  lá,  cholesterol, làm  gan  tăng chuyển hóa đường vào máu dư thừa.

7- Do tăng đường huyết nguyên nhân do tăng tiết hormone glucocorticoid của vỏ tuyến thượng thận thuộc hội chứng Cushing có dấu hiệu loãng xương, mệt mỏi, teo cơ, rậm lông ở mặt.

8- Do lạm dụng thuốc corticoid, ACTH, và thuốc lợi tiểu.

Triệu chứng bệnh tiểu đường

Khi bệnh còn nhẹ, cơ thể bình thường không có triệu chứng gì khó chịu, chỉ khi nào thử máu và nước tiểu lúc đó mới biết mình có bệnh tiểu đường.

Cơ thể lúc đói, bình thường lượng đường trong máu từ 0,8 -1,0 gram/lít. Khi bị bệnh, đường trong máu sẽ có từ 1,5-3,0 gram/lít và đường trong nước tiểu từ vài gram đến 100 gram/lít.

Trường hợp không phát giác kịp để điều chỉnh lại vấn đề ăn uống, bệnh sẽ tiến triển và hiện rõ những dấu hiệu đông y gọi là BA NHIỀU: Khát nước uống nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều.

Khát, uống nhiều: Người bị bệnh tiểu đường cảm thấy khô họng khát nước, cơ thể bắt phải uống nước rất nhiều trong ngày.

Ăn nhiều: Ăn rất nhiều mà cơ thể cứ suy yếu dần đến gầy ốm, sức khỏe yếu, tình dục yếu kém.

Tiểu nhiều: Tiểu ra từ 2 đến 10 lít nước tiểu mỗi ngày, khi tiểu nước tiểu nổi bọt lâu tan nhất là lần tiểu đầu trong ngày vào buổi sáng,bọt nổi lên sau hơn nửa giờ mới tan. Khi bệnh nặng hơn thì số lượng nước tiểu ra nhiều hơn số lượng nước uống vào làm cơ thể suy nhược gầy ốm do mất nước.

Biến chứng bệnh tiểu đường

Bệnh  tiểu  đường  có  thể  sẽ  kèm  theo  những biến chứng hại đến chức năng của thận như bị ngứa vùng cơ quan sinh dục, nếu hại đến chức năng của gan sẽ làm mờ mắt, đau võng mạc, mắt kéo mây, mắt cườm, glocôme, nếu hại đến chức năng của phế sẽ dễ bị nhiễm trùng ngoài da gây mụn nhọt, lở loét, khi da bị trầy xước, hoặc phỏng sẽ lâu lành, nếu hại đến chức năng tuần hoàn huyết thuộc tâm và tâm bào sẽ làm tăng áp huyết, nếu hại đến chức năng thần kinh thì da thịt cảm thấy có nơi đau nhức hoặc tê mất cảm giác hoặc bại liệt khó vận động.

Phân loại biến chứng bệnh tiểu đường

A.BỆNH CHỨNG CHUNG KHI MỚI PHÁT:

Đầu nặng, lừ đừ, mệt mỏi, muốn ngủ, nóng nhức trong đầu óc, da khô sần lở ngứa, khát nước, mau đói, họng khô do táo khí của phế bị kết nhiệt lâu ngày.

Đông y phân loại bệnh chứng diễn tiến phản ảnh qua hệ tam tiêu theo đường kinh của các tạng phủ thành 3 giai đoạn tiến triển của bệnh có liên quan đến bệnh tiêu khát và đái tháo đường.

B.BỆNH Ở THƯỢNG TIÊU:

Trước hết khi bệnh còn ở thượng tiêu có dấu hiệu lưỡi khô nứt rát làm cho bị khát phải uống nhiều nước mà không đã khát.

Gốc của bệnh tiểu đường do chức năng gan có nhiệt tà sinh phong hỏa xung lên tim làm tim nóng và đau, tâm thuộc hỏa gặp phong hỏa hại phế kim làm khô kiệt tân dịch trong phổi, nên kim không sinh thủy khiến cơ thể nóng phát nhiệt, môi,lưỡi, miệng và da khô nóng phải tự động cầu cứu nước uống bên ngoài giúp thận đủ thủy để ức chế hỏa của tâm, nhưng uống vào bao nhiêu cũng không đủ để ức chế hỏa mà ngược lại còn bị hỏa vượng đốt cháy hết, đông y gọi là chứng Tâm hỏa khắc phế kim, cho nên phổi càng khô  (táo càng thêm táo) vì vậy uống hoài vẫn thấy khát  mới gọi là bệnh tiêu khát.

C.BỆNH Ở TRUNG TIÊU:

Có dấu hiệu mau đói, ăn rất nhiều, da thịt vẫn teo gầy, ra mồ hôi, đại tiện khô, tiểu nhiều do khí hóa của tỳ không hấp thụ.

Nguyên nhân do tâm hỏa bị nhiệt đốt truyền xuống vị thổ làm bao tử nóng khô cứng như đất nung, thức ăn vào bao tử bị đốt cháy tiêu hóa nhanh không biến thành chất bổ nên mau đói, khi bệnh còn ở trung tiêu thì ăn nhiều mà vẫn ốm, bao tử cứng bên trong và hay đi tiểu nhiều lần, mỗi lần ra từng tí một.

D.BỆNH Ở HẠ TIÊU:

Có dấu hiệu nóng sốt trong người, thèm nước, uống nhiều, vành tai khô nứt, tiểu ra chất đục như mỡ, bắp chân teo, đi đứng nặng nề do thận dương (chức năng thận) không chuyển hóa, nguyên nhân do thận thủy hư bởi mẹ là phế kim đang bị tâm hỏa thiêu đốt, phổi khô nóng nên không sinh thủy để nuôi thận, do đó thận thủy không đủ sức ức chế hỏa, phải tự động uống nước bên ngoài vào, nhưng hỏa tà làm tâm hư không giao hỏa xuống mệnh môn tam tiêu để hóa thủy khí cho nên nước uống vào bị đẩy hết xuống ra ngoài theo bàng quang. Khi bệnh ở hạ tiêu còn nhẹ thì uống vào bao nhiêu nước tiểu ra bấy nhiêu, nước theo tỷ lệ uống vào một tiểu ra một. Khi bệnh nặng uống vào một tiểu ra hai, nghĩa là nó rút thêm nước dự trữ trong cơ thể theo ra luôn làm cho cơ thể mất trọng lượng gầy ốm dần cho đến kiệt sức.

E.PHÂN LOẠI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG THEO CHỨNG:

a-Chứng nhiệt thịnh nội táo:

Dấu hiệu lâm sàng:

Miệng khát, uống nhiều, ăn nhiều mau đói, người vẫn ốm, tiểu nhiều, nước tiểu vàng, sắc lưỡi đỏ, mạch sác (nhiệt ).

Đối chứng trị liệu:

Phải  tư  âm  thanh  nhiệt,  trong  bài  thuốc  phải  có những vị như Sinh địa, Mạch môn đông, Hoa phấn là chính.

b-Chứng khí âm lưỡng hư:

Dấu hiệu lâm sàng:

Miệng khát, uống nhiều, tiểu nhiều, người gầy ốm, đại tiện khi bón khi tiêu chảy, sắc lưỡi nhạt, mạch tế sác.

Đối chứng trị liệu:

Phải  ích  khí  dưỡng  âm,  trong  bài  thuốc  phải  có những vị như Hoàng kỳ, Hoài sơn, Sinh địa, Ngũ vị tử, Thiên hoa phấn là chính.

c-Chứng can thận âm hư:

Dấu hiệu lâm sàng:

Đi tiểu nhiều lần, lượng nước nhiều, đầu váng, hoa mắt, nhức mỏi lưng gối, nam di tinh, nữ kinh nguyệt không đều, sắc lưỡi đỏ nhạt, mạch tế sác.

Đối chứng trị liệu:

Phải tư bổ can thận, giảm tiểu tiện, trong bài thuốc phải có những vị như Thục địa, Hoài sơn, Kỷ tử, Ngũ vị tử là chính.

d-Chứng âm dương lưỡng hư: Dấu hiệu lâm sàng:

Bệnh đã lâu ngày chưa khỏi khiến đi tiểu nhiều lần, ra nhiều, họng khô, lưỡi khô, chân tay lạnh, sợ lạnh, yếu sinh lý, mạch tế vô lực.

Đối chứng trị liệu:

Phải ôn dương, tư âm bổ thận, trong bài thuốc phải có những vị như Hoàng kỳ, Thục địa, Hoài sơn, Sơn thù là chính.

Điều dưỡng bệnh tiểu đường

Biết cách nghỉ ngơi và chọn lựa những thứ ăn uống đúng theo nhu cầu cơ thể cần cho mỗi giai đọan đang bị bệnh. A.NGHỈ NGƠI:
Phải nghỉ ngơi ở nơi thoáng khí mát mẻ tinh sạch, tắm mát mỗi ngày, ăn uống chừng mực.

Điều chỉnh bằng ĂN UỐNG để phòng bệnh tiểu đường:

Khi có dấu hiệu bệnh ở thượng tiêu nên ăn hoặc uống mướp đắng, rau má, bình bát, bù ngót, lá sen..

Khi có dấu hiệu bệnh ở trung tiêu nên nấu củ khoai mài  (hoài sơn) với hột sen, ăn để tăng tính hấp thụ đường của tỳ để nuôi cơ bắp làm giảm lượng đường trong máu và trong nước tiểu.

Khi có dấu hiệu bệnh ở hạ tiêu nên nấu nước đậu đen rễ qua lâu (rễ qủa dưa núi còn gọi là Thiên hoa phấn hay qua lâu căn).

Phần 3 trong Câu chuyện Đông Y (Tập 5) – Tác giả Đỗ Đức Ngọc

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *