Các phương thức trị bệnh của Tác động cột sống

Bài viết thuộc phần 8 trong Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam
Tài liệu bản gốc – Hà nội 9- 1991
tác giả:  Lương Y Nguyễn Tham Tán (1915-2000)

CÁC PHƯƠNG THỨC TRỊ BỆNH CỦA TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG

ĐẠI CƯƠNG

Nội dung của Phương pháp Tác Động Cột sống về trị bệnh là giải tỏa trọng điểm – Ổ rối loạn khu trú trên các đốt sống biến đổi.
Cơ sở để đánh giá kết quả giải tỏa trọng điểm là sự lập lại cân bằng giữa 2 mặt đối lập của 4 đặc trưng khu trú ở trên hệ cột sống và ngoại vi. Để giải tỏa trọng điểm Phương pháp Tác động cột sống có các Phương thức trị bệnh sau:
Các phương thức trị bệnh gồm có:
I- Phương thức NÉN
II- Phương thức SÓNG
III- Phương thức ĐƠN CHỈNH và SONG CHỈNH
IV- Phương thức VI CHỈNH

Mục đích của phương thức nén là tạo cho các đốt sống bệnh lý bị dính cứng chuyển động được. Phương thức này không dựa vào khả năng tự điều chỉnh của cơ thể mà phải tùy thuộc vào sự khéo léo của Thầy thuốc. Tùy thuộc vào trọng điểm khu trú ở các vùng trên cột sống mà áp dụng phương thức nén với các tư thế và thủ thuật thao tác thích hợp như nén kéo, nén nâng, nén vít, nén tĩnh…

Mục đích của phương thức sóng là tạo cho trọng điểm có một cảm giác đau thích hợp bằng thủ thuật để giải tỏa các hình thái của trọng điểm để trị bệnh. Tùy thuộc vào hình thái của lớp cơ bệnh lý khu trú ở trên hệ cột sống thuộc từng vùng khác nhau mà áp dụng phương thức sóng với các tư thế và thủ thuật thao tác thích hợp như đẩy, xoay, bật, rung, bỉ, lách…

Mục đích của phương thức đơn chỉnh là giải tỏa hình thái trọng điểm khu trú ở một phần nhỏ ở trên đầu gai sống. Tùy thuộc vào hình thái của lớp cơ bệnh lý khu trú ở trên hệ cột sống thuộc từng vùng khác nhau mà áp dụng các tư thế và thủ thuật thao tác thích hợp bằng phần mềm của 1 đầu ngón tay.

Mục đích của phương thức song chỉnh là giải tỏa đồng thời hình thái trọng điểm khu trú ở một phần nhỏ ở trên đầu gai sống và điểm đối động hoặc điểm liên quan. Tùy thuộc vào hình thái của lớp cơ bệnh lý khu trú ở trọng điểm thuộc từng vùng khác nhau cũng như điểm đối động và /hoặc điểm liên quan mà áp dụng các tư thế và thủ thuật thao tác thích hợp bằng phần mềm của 2 đầu ngón tay.

Tóm lại: Mục đích của 4 phương thức – NÉN, SÓNG, ĐƠN CHỈNH và SONG CHỈNH là phục hồi sự NGAY THẲNG của cột sống (phục hồi hình thái sinh lý của cột sống)

Mục đích của phương thức vi chỉnh là Đảm bảo sự kín khít của hệ cột sống. Muốn đạt được điều này cần phải xác định và giải tỏa được trọng điểm khu trú ở các bờ của khe đốt bị so le , điển hình là lớp cơ co ở bờ cao và ở chân của bờ cao của đốt sống bị so le. Khi tạo được sóng thích hợp thì cơ thể tự điều chỉnh, khe đốt sống cân bằng và kín khít. Phương thức vi chỉnh được áp dụng trên người bệnh sau khi đã áp dụng phương thức đơn chỉnh và song chỉnh.

I – PHƯƠNG THỨC NÉN.
Nén là một phương thức thao tác bằng thủ thuật gồm có nhiều hình thức khác nhau , mục đích của thao tác là làm cho các đốt sống bị dính cứng chuyển động được theo yêu cầu của thầy thuốc.
Phương thức Nén gồm nhiều tư thế để tạo cho hệ cột sống người bệnh chuyển động để thao tác như kéo, nâng, vít, hoặc tạo cho hệ cột sống người bệnh yên tĩnh và thư giãn để tác động có hiệu lực.
Các phương thức nén gồm:
1/ Phương thức Nén Kéo
2/ Phương thức Nén Nâng
3/ Phương thức Nén Vít
4/ Phương thức Nén Tĩnh
Mỗi phương thức Nén nhằm giải quyết một yêu cầu riêng theo vị trí khu trú của trọng điểm tại các khu vực của hệ cột sống.
I.1 Phương thức nén kéo.
Mục đích tạo cho toàn bộ hệ cột sống chuyển động được để thao tác. Nén kéo bao gồm 4 tư thế:
A. Tư thế Ngồi Kéo ngửa.
B. Tư thế Ngồi Kéo vặn.
C. Tư thế Đứng kéo ngửa
D. Tư thế Đứng kéo vặn

A- Tư thế ngồi kéo ngửa ( xem hình minh họa H.1)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú trong phạm vi từ D6 đến D12, có hình thái Liên Lồi, và giữ tĩnh các đốt sống từ D12 trở xuống.
Tư thế: – Người bệnh: Ngồi ghế, hai đầu gối vuông góc, bàn chân đặt bằng trên mặt đất, lưng thẳng, đầu cổ ngay, hay bàn tay đưa vòng ra sau gáy khóa chặt các ngón , hai cánh tay áp sát mang tai ( khi thao tác có thể mở cánh tay theo yêu cầu của thao tác).
– Thầy thuốc: Ngồi ghế phía sau người bệnh, một tay dùng ngón cái đặt tĩnh tại trọng điểm, tay kia nắm chắc hai bàn tay người bệnh đan khóa ở sau gáy.
Thao tác: Tay phía trên kéo tay người bệnh cho ngả người ra phía sau rồi lại đẩy về tư thế ngồi thẳng như cũ, tay kia đặt nén tĩnh tại trọng điểm đẩy ra phía trước, không cho phần thân dưới chuyển động theo ra phía sau.
Khi đẩy người bệnh trả lại tư thế cũ thì tay kia cũng buông trùng không nén. Tiếp tục lặp lại trình tự như trên nhiều lần, thao tác từ thưa đến mau theo tốc độ yêu cầu cho đến ngưỡng thì ngừng.
B- Tư thế đứng kéo ngửa ( xem hình minh họa H.2)
Mục đích: giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú trong phạm vi vùng thắt lưng từ L1 đến L5 có hình thái Liên Lồi.
Tạo cho hệ cột sống người bệnh từ L5 trở lên chuyển động theo hướng từ trước ra sau và giữ tĩnh phần thân dưới từ L5 trở xuống.
Tư thế: Người bệnh: đứng thẳng , dựa hai đùi vào một điểm tỳ vững chắc ( cụ thể như thành giường) , hai tay đưa lên gáy, các ngón tay đan khóa chặt, cẳng tay và cánh tay áp sát mang tai.
– Thầy thuốc: Đứng thẳng ở phía sau của người bệnh, một tay tóm chắc hai bàn tay khóa của người bệnh ở sau gáy, một tay dùng ngón cái đặt tĩnh tại trọng điểm trong phạm vi từ L1 đến L5.
Thao tác: Tay phía trên kéo cho người bệnh ngửa người ra phía sau rồi đẩy trả về tư thế cũ, tay kia đặt tĩnh tại trọng điểm đẩy ra phía trước, giữ không cho phần thân dưới chuyển động theo ra phía sau.
Khi một tay đẩy trả lại tư thế đứng thẳng thì tay kia buông trùng không nén. Sau đó tiếp tục lặp lại thao tác như trên nhiều lần từ thưa đến mau cho đến ngưỡng của định lượng thì ngừng.
C- Tư thế ngồi kéo vặn ( xem hình minh họa H.3)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú trong phạm vi từ D8 đến L5 có hình thái Liên Lồi Lệch hoặc Liên Lệch.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi cột sống từ D8 đến L5 chuyển động được và giữ tĩnh từ vùng L5 trở xuống.
Tư thế: – Người bệnh: Ngồi ghế, đầu gối vuông góc, lưng thẳng, đầu cổ ngay, một tay buông thõng, một tay đưa chéo qua ngực và bụng , chìa bàn tay ra mạng sườn bên kia cho thầy thuốc nắm.
– Thầy thuốc: Ngồi ghế phía sau người bệnh, một tay đặt tĩnh tại trọng điểm, tay kia nắm bàn tay của người bệnh để thao tác.
Thao tác: Hình thức là kéo vặn người xoay ra phía sau , một tay dùng ngón cái nén tĩnh tại trọng điểm để giữ cho phần thân dưới trọng điểm không chuyển động.
Thao tác nhip nhàng , kéo vặn người bệnh nhân ra phía sau rồi lại trả về tư thế cũ, nhiều lần từ thưa đến mau cho đến ngưỡng của định lượng thì ngừng thao tác.
D- Tư thế đứng kéo vặn ( xem hình minh họa H.4)
Mục đích : Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng thắt lưng và vùng cùng ( L4, L5 đến S1, S2, S3 ) có hình thái Liên Lồi Lệch hoặc Liên Lệch.
Tạo cho trọng điểm trên cột sống trong phạm vi từ L4, L5 đến S1, S2, S3 chuyển động được theo hướng vặn từ phải qua trái hoặc ngược lại.
Tư thế: – Người bệnh: Đứng thẳng, hai bàn chân đặt bằng ở mặt đất cách nhau một gang tay, đầu cổ ngay, một tay buôn thõng, một tay đưa chéo phía trước ngang qua bụng và ngực, đặt bàn tay ở mạn sường cho thầy thuốc nắm để thao tác.
– Thầy thuốc: Ngồi ghế phía sau người bệnh , co một chân, đặt bàn chân trên mặt ghế, thúc đầu gối vào dưới mông người bệnh làm điểm tỳ, một tay nắm tay người bệnh và tay kia giữ chắc xương mào chậu của người bệnh.
Thao tác: Bằng cả hai tay một lúc, một tay dùng lực kéo vặn người bệnh nhân về phía sau rồi buông trả lại tư thế cũ, nhịp nhàng từ nhẹ đến mạnh và cuối cùng kéo giật mạnh đột ngột song song trong lúc bàn tay kia giữ xương mào chậu của người bệnh kéo giật lại phía sau.
Chú ý: Đốt sống lệch về bên nào thì dùng đầu gối bên đó làm điểm tỳ và đồng thời kéo vặn về phía bên đó, cụ thể là phía có lớp cơ cường. Nếu thấy khớp xương kêu răng rắc là đạt yêu cầu tốt.

I.2 Phương thức nén nâng.
Yêu cầu của phương thức nén nâng là tạo cho hệ cột sống một sự chuyển động nhất định qua thao tác.`Phương thức nén nâng bao gồm 4 tư thế:
A- Tư thế nằm nâng tay.
B- Từ thế ngồi nâng tay.
C- Tư thế nằm nâng hai chân.
D- Tư thế nằm nâng một chân.
A. Tư thế Nằm Nâng tay ( xem hình minh họa H.5)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng lưng từ D8 đến D12 có hình thái Liên Lồi.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ D8 đến D12 chuyển động được theo hướng thẳng từ ngoài vào trong.
Tư thế: – Người bệnh: Nằm sấp, hai chân duỗi song hành, đầu ngẩng, hai cánh tay đưa thẳng lên đầu áp xuống mặt giường, hai cánh tay sát má, hai bàn tay đan khóa chắc các ngón.
– Thầy thuốc: Đứng cúi ngang vùng lưng trên người bệnh, một tay luồn xuống dưới hai cánh tay người bệnh chỗ bắp tay, tay kia chuẩn bị thao tác Nén.
Thao tác: Thầy thuốc dùng tay luồn dưới hai cánh tay người bệnh nâng bổng nửa thân người bệnh từ vùng L trở lên rồi lại đặt xuống trả về tư thế cũ. Thao tác nhịp nhàng như vậy nhiều lần để quan sát đốt sống lồi nhất của trọng điểm. Khi thấy lưng người bớt cứng thì tạo một sự chuyển động đột ngột: một tay nâng hai cánh tay người bệnh cùng lúc đó dùng bàn tay nén nhanh và mạnh tại trọng điểm.
Thao tác này thường chỉ áp dụng một lần, ít khi phải lặp lại lần thứ 2.
B. Tư thế ngồi nâng tay ( xem hình minh họa H.6)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú trong phạm vi từ D6 đến D10 có hình thái Liên Lồi.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ D6 đến D10 chuyển động theo hướng thẳng từ ngoài vào trong.
Tư thế: – Người bệnh: Ngồi xổm, lưng thẳng, đầu cổ ngay, hai cánh tay thẳng áp sát mang tai giơ lên phía trên các ngón khóa chặt.
– Thầy thuốc: Đứng cúi chếch góc 45o phía sau người bệnh, hai bàn chân cách nhau 40cm, cánh tay trái áp sát phía trước hai cánh tay người bệnh, cánh tay phải tỳ cùi tay vào đùi bên phải của mình dùng làm điểm tỳ cho bàn tay phải đặt tĩnh tại trọng điểm.
Thao tác: Thao tác hai tay cùng 1 lúc, tay trái gạt hai cánh tay người bệnh từ phía trước ra phía sau, tay phải nén tĩnh tại trọng điểm đẩy ra phía trước, sau đó lại trả về tư thế cũ. Thao tác nhịp nhàng như vậy cho đến ngưỡng của định lượng thì ngừng thao tác.
CHÚ Ý: Trong khi thao tác nén, thầy thuốc dùng đùi bên phải của mình làm điểm tỳ cho cánh tay phải thao tác, góc độ chuyển động của đùi với bàn chân phải của thầy thuốc đặt tĩnh là góc độ quy định lực nén trên trọng điểm.
C. Tư thế nằm nâng hai chân ( xem hình minh họa H.7)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú trong phạm vi từ L3 đến S5 có hình thái Liên Lồi.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ L3 đến S5 chuyển động theo hướng thẳng từ ngoài vào trong.
Tư thế: – Người bệnh: Nằm sấp hai chân duỗi thẳng, hai tay khoanh vòng trước trán và tỳ trán trên vòng cánh tay.
– Thầy thuốc: Đứng cúi ngang tầm thắt lưng người bệnh, một tay luồn xuống dưới hai đùi người bệnh ở khu vực sát trên gối, một tay buông để chuẩn bị nén.
Thao tác: Thầy thuốc dùng ngón tay luồn dưới hai đùi người bệnh nâng cho vùng hông từ L3 đến S5 bổng khỏi mặt giường rồi lại trả về tư thế cũ. Thao tác vài lần như vậy, khi nâng mà thấy vùng lưng người bệnh bớt cứng thì cùng một lúc trong lúc tay nâng đùi người bệnh bổng lên thì tay kia nén mạnh tại trọng điểm ấn xuống.
Nếu thao tác đúng lúc thì chỉ cần thực hiện một lần đã đến ngưỡng.
D. Tư thế nằm nâng một chân ( xem hình minh họa H.8)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú trong phạm vi từ S1 đến S5 có hình thái Liên Lồi Lệch và Liên Lệch
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ S1 đến S5 chuyển động theo hướng chếch từ ngoài vào trong, hoặc từ phải qua trái hay ngược lại.
Tư thế: – Người bệnh: Nằm sấp duỗi thẳng hai chân, hai tay khoanh tròn trước trán, tỳ trán trên vòng cánh tay.
– Thầy thuốc: Đứng cúi ở ngang vùng thắt lưng người bệnh, một tay luồn xuống dưới một đùi người bệnh ở khu vực trên gối, một tay đặt tĩnh tại trọng điểm để chuẩn bị thao tác.
CHÚ Ý: Trọng điểm lệch bên nào (Tức bên phía có cơ co cường) thì nâng chân bên ấy.
Thao tác: Thầy thuốc luồn một tay dưới đùi người bệnh bên phía cơ cường, nâng bổng một bên hông lên khỏi mặt giường rồi lại trả về tư thế cũ. Thao tác như vậy vài lần, khi nâng thấy vùng hông bớt cứng thì tạo một động tác đột ngột, đúng lúc tay này nâng bổng đùi người bệnh lên thì tay kia ấn mạnh tại trọng điểm nén xuống.
Nếu thao tác đúng lúc thì chỉ cần áp dụng thủ thuật này một lần đã đến ngưỡng.
I.3 Phương pháp nén vít
Yêu cầu của phương thức Nén Vít là tạo cho hệ cột sống một sự chuyển động nhất định để thao tác giải tỏa trọng điểm để trị bệnh. Phương thức Nén Vít bao gồm bốn tư thế.
A- Tư thế Nằm Vít một gối B- Tư thế Nằm Vít hai gối
C- Tư thế Đứng Vít một mông D- Tư thế Đứng Vít hai mông
A. Tư thế nằm vít một gối ( xem hình minh họa H.9)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng từ S1 đến S5 có hình thái Lồi Lệch đơn và Liên Lệch.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ S1 đến S5 chuyển động được theo hướng chếch 45o từ ngoài vào trong đối với hình thái Lồi Lệch, và hướng ngang từ phải qua trái hoặc ngược lại với hình thái Liên Lệch..
Tư thế: – Người bệnh: Nằm ngửa, một chân duỗi thẳng, một chân chống gối gót chạm mông, vòng hai cánh tay gối đầu trên hai bàn tay ngửa.
Thầy thuốc: Đứng cúi ở phía ngang đùi người bệnh, hai bàn tay đặt úp trên gối người bệnh để thao tác.
Thao tác: Thầy thuốc dùng hai tay vít đầu gối người bệnh đến mức tối đa xuống phía mặt giường khiến mông bên đó và lưng của người bệnh phải bật bổng khỏi mặt giường, rồi lại trả về tư thế cũ. Thao tác nhịp nhàng như vậy nhiều lần cho đến ngưỡng thì ngừng.
B. Tư thế nằm vít hai gối ( xem hình minh họa H.10)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng cùng từ S1 đến S5 có hình thái Đơn Lồi hoặc Liên Lồi.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ S1 đến S5 chuyển động được theo hướng thẳng từ ngoài vào trong.
Tư thế: – Người bệnh: Nằm ngửa, hai chân chống gối, gót chạm mông, vòng hai cánh tay, đầu gối lên hai bàn tay ngửa.
– Thầy thuốc: Đứng cúi phía dưới chân người bệnh, hai bàn tay úp đặt trên gối của người bệnh để thao tác.
Thao tác: Thầy thuốc dùng hai tay vít mạnh hai đầu gối người bệnh đến mức tối đa xuống phía mặt giường khiến hai mông và lưng của người bệnh phải bật bổng khỏi mặt giường rồi trả về tư thế cũ. Thao tác nhịp nhàng như vậy nhiều lần cho đến ngưỡng thì ngừng.
C. Tư thế đứng vít một mông ( xem hình minh họa H.11)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú trong vùng thắt lưng và hông từ L1 đến L5 và từ S1 đến cụt có hình thái Lồi Lệch và Lệch.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ L1 đến S5 chuyển động được từ phía sau ra phía trước.
Tư thế:- Người bệnh: Đứng thẳng, hai chân giang rộng cách nhau 40cm, dùng bàn tay cùng phía có cơ co lệch đặt tỳ trên xương hông cùng bên, tay kia buông thõng.
– Thầy thuốc: Dùng cánh tay cùng bên tay người bệnh đã chống trên xương hông nắm chắc khuỷu tay người bệnh để thao tác, tay kia nắm chắc vai bên kia của người bệnh.
Thao tác: Kéo vít cánh tay chống trên hông của người bệnh theo hướng từ trên xuống dưới theo độ chếch hướng trục để cho mông người bệnh chuyển động lướt từ phía sau ra phía trước, dùng chính bàn tay trên hông của người bệnh làm điểm tỳ cho thao tác. Sau khi vít mạnh lại trả về tư thế cũ, thao tác nhịp nhàng nhiều lần cho đến ngưỡng thì ngừng.
D. Tư thế đứng vít hai mông ( xem hình minh họa H.12)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú trong vùng từ L1 đến L5 và từ S1 đến S5 có hình thái Liên Lồi.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ L1 đến L5 và S1 đến S5 chuyển động được theo hướng lướt từ phía sau ra phía trước.
Tư thế: – Người bệnh: Đứng thẳng, hai chân giang rộng cách nhau 40cm, hai bàn tay đặt trực tiếp trên hai bên xương hông làm điểm tỳ cho thao tác.
– Thầy thuốc: Hai tay nắm chắc hai khuỷu tay người bệnh để chuẩn bị thao tác.
Thao tác: Kéo vít 2 cánh tay của người bệnh đang chống trên hông theo hướng từ trên xuống dưới để chỉnh hai bàn tay người bệnh lại đẩy hai mông của mình từ phía sau ra phía trước . Sau khi vít mạnh lại trả về tư thế cũ, thao tác nhịp nhàng nhiều lần cho đến ngưỡng thì ngừng.
I.4 Phương thức nén tĩnh
Yêu cầu của phương thức nén tĩnh là tạo cho hệ cột sống người bệnh thư giãn để tác động trong một phạm vi hẹp tại trọng điểm. Phương thức nén tĩnh bao gồm:
A-Tư thế Nằm sấp. B- Tư thế nằm nghiêng
C- Tư thế Nén Đứng lướt. D-Tư thế đứng cúi
E- Tư thế đứng nghiêng G- Tư thế ngồi cúi gập
A- Tư thế nằm sấp
Mục đích: tạo cho toàn bộ hệ cột sống thư giãn để tác động. Hình thức nằm sấp bao gồm 3 tư thế:
1. Tư thế nằm sấp chân co chân duỗi.
2. Tư thế nằm sấp tay vòng trước trán.
3. Tư thế nằm sấp trườn người.

1. Tư thế nằm sấp chân co chân duỗi ( xem hình minh họa H.13)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú tại vùng L3 đến L5, S1 đến S5 và cụt có hình thái Liên Lồi Lệch, Lệch và Liên Lõm Lệch.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ L3 đến vùng cụt chuyển động được.
Tư thế: – Người bệnh : Nằm sấp , một chân duỗi thẳng , một chân co gập dưới bụng, gót chạm mông, hai tay vòng đỡ trán (chú ý co chân bên có trọng điểm)
– Thầy thuốc : đứng cúi ở phía ngang vùng thắt lưng người bệnh , hai bàn tay xòe rộng áp sát lưng người bệnh, tỳ hai ngón tay cái tại trọng điểm, cánh tay thẳng cứng.
Thao tác: Thầy thuốc dùng lực từ tối thiểu đến tối đa của nguyên tắc định lượng, thao tác bằng thủ thuật ĐẨY nhịp nhàng theo hướng chếch từ ngoài vào trong đối với hình thái Liên Lồi Lệch, và theo hướng ngang qua phải hoặc qua trái đối với hình thái Lệch. Đối với hình thái Liên Lõm Lệch thì áp dụng thủ thuật Bỉ nhịp nhàng theo hướng từ trong chếch ra ngoài.
Thao tác như vậy nhiều lần, khi thấy đốt sống bị dính cứng đã chuyển động thì ngừng thao tác.
2. Tư thế nằm sấp tay vòng trước trán ( xem hình minh họa H.14)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng thắt lưng L4, L5 và vùng cũng từ S1 đến S5 , có hình thái Liên Lồi Lệch và Liên Lệch.
Tạo cho trọng điểm trong phạm vi từ L4 đến S5 chuyển động được theo hướng quy định.
Tư thế: – Người bệnh: Nằm sấp, hai chân duỗi thẳng song hành, hai tay khoanh vòng trước trán, tỳ trán trên cánh tay.
– Thầy thuốc: đứng cúi , hai cánh tay thẳng, hai bàn tay xòe rộng trên lưng người bệnh, đặt tỳ hai ngón tay cái tại trọng điểm để thao tác.
Thao tác: Nén tĩnh hai ngón tay tại trọng điểm làm cho trọng điểm chuyển động được theo hướng chếch từ ngoài vào trong đối với hình thái Lồi Lệch, và theo hướng ngang từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái đối với hình thái Liên Lệch. Buông trùng tay nén để người bệnh trở về tư thế cũ. Thao tác nhịp nhàng như vậy nhiều lần đến ngưỡng thì ngừng.
3. Tư thế nằm sấp trườn người ( xem hình minh họa H.15)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng lưng dưới từ D8 đến D12, vùng thắt lưng L1 đến L5 , và vùng cùng S1 đến S5, có hình thái Liên Lồi Lệch hoặc Liên Lệch.
Tạo cho trọng điểm khu trú trong phạm vi từ D8 đến S5 chuyển động được theo hướng chếch từ phía trước ra phía sau đối với hình thái Liên Lồi Lệch, và theo hướng từ phải qua trái hoặc ngược lại đối với hình thái Liên Lệch.
Tư thế: – Người bệnh: nằm sấp ngang giường cao, thân mình trườn trên mặt giường, đùi và chân buôn trùng ngoài mặt giường , hai cánh tay duỗi thẳng, giang rộng, mặt úp sấp.
Thầy thuốc: Đứng cúi ngang trọng điểm , hai cánh tay thẳng, hai bàn tay xòe rộng, hai ngón cái đặt tỳ tại trọng điểm để chuẩn bị thao tác.
– Thao tác : Nén tĩnh tại trọng điểm bằng lực cả 2 ngón tay từ tối thiểu đến tối đa làm cho đốt chuyển động theo hướng chếch từ phía sau ra phía trước đối với hình thái Liên Lồi Lệch, hoặc theo hướng từ phải qua trái hoặc từ trái qua phải đối với hình thái Liên Lệch. Thao tác nhịp nhàng như vậy đến ngưỡng thì ngừng.
B- Tư thế nén nằm nghiêng
Tư thế nén nằm nghiêng bao gồm 3 tư thế:
1- Tư thế Nằm nghiêng chân chéo
2- Tư thế Nằm Nghiêng chân co tối đa
3- Tư thế Nằm Nghiêng chân co.
1. Tư thế nằm nghiêng chân chéo ( xem hình minh họa H.16)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng thắt lưng L4, L5 và vùng cùng từ S1 đến S5, có hình thái Liên Lồi Lệch và Liên Lệch hoặc Liên Lõm.
Tạo sự chuyển động cho trọng điểm khu trú ở vùng thắt lưng từ L4 đến S5 theo hướng chếch từ sau ra trước đối với hình thái Liên Lồi Lệch, từ phải qua trái hay ngược lại đối với hình thái Liên Lệch, và từ trong ra ngoài đối với hình thái Liên Lõm bằng cách áp dụng thủ thuật Bi.
Tư thế: – Người bệnh: nằm nghiêng , một cánh tay gối đầu, tay kia ở tư thế tự do, hai chân đều duỗi thẳng, chân trên đặt chéo ra phía trước, gót chân cách ngón chân của bàn chân bên kia chừng 20cm.
– Thầy thuốc: đứng cúi ngang trọng điểm phía sau lưng người bệnh, thẳng hai cánh tay, hai bàn tay đặt trên lưng người bệnh xòe rộng, hai ngón tay cái đặt tại trọng điểm để chuẩn bị thao tác.
Thao tác: Nén tĩnh cả hai ngón tay tại trọng điểm, áp dụng lực từ tối thiểu đến tối đa theo hướng chếch từ sau ra trước đối với hình thái Liên Lồi Lệch, từ phải qua trái hoặc ngược lại đối với hình thái Liên Lệch, và theo hướng từ trong ra ngoài bằng thủ thuật Bỉ đối với hình thái Liên Lõm. Sau khi nén lại buông trùng tay, ngừng thao tác để người bệnh trở lại tư thế cũ. Thao tác nhịp nhàng như vậy theo tốc độ quy định cho đến ngưỡng thì ngừng.

2. Tư thế nằm nghiêng chân co tối đa ( xem hình minh họa H.17)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng thắt lưng từ L1 đến L5 và vùng cùng từ S1 đến S5 có hình thái Liên Lồi Lệch và Liên Lệch hoặc Liên Lõm.
Tạo sự chuyển động cho trọng điểm khu trú ở vùng thắt lưng từ L1 đến S5 theo hướng chếch từ ngoài vào đối với hình thái Liên Lồi Lệch, hướng ngang từ phải qua trái hoặc ngược lại đối với hình thái Liên Lệch và theo hướng từ trong ra ngoài đối với hình thái Liên Lõm.
Tư thế: – Người bệnh: Nằm nghiêng phía có cơ co áp sát mặt giường , chân dưới duỗi thẳng, chân trên co gập đùi áp sát bụng. Cánh tay sát mặt giường co gập ngang vai, bàn tay đặt nhẹ lên cổ, tay kia duỗi thẳng nắm chắc ngón chân cái của chân co.
– Thầy thuốc: Đứng cúi ngang trọng điểm phía sau lưng người bệnh, hai cánh tay thẳng, hai bàn tay xòe rộng áp sát trên lưng người bệnh, hai ngón tay cái đặt tại trọng điểm để thao tác.
Thao tác: Nén tĩnh cả hai ngón tay tại trọng điểm, áp dụng lực từ tối thiểu đến tối đa theo đúng hướng quy định làm cho các đốt sống chuyển động. Sau khi nén lại buông trùng cả hai tay để bệnh nhân trở về tư thế cũ. Thao tác nhịp nhàng theo tốc độ quy định đến ngưỡng thì ngừng.

3. Tư thế nằm nghiêng chân co ( xem hình minh họa H.18)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng lưng dưới từ D8 đến D12, vùng thắt lưng từ L1 đến L5 và vùng cùng có hình thái Liên Lồi Lệch, Liên Lệch hoặc Liên Lõm.
Tạo sự chuyển động cho trọng điểm khu trú ở vùng từ D8 đến vùng cùng.
Tư thế: – Người bệnh: Nằm nghiêng, chân dưới duỗi thẳng, chân trên co vuông góc thước thợ, cánh tay dưới nâng lên ngang vai, khuỷu tay gập, bàn tay úp trên cơ vai hoặc cổ, tay trên ở tư thế tự do.
Thầy thuốc: Đứng cúi ngang trọng điểm phía sau người bệnh, hai cánh tay thẳng, hai bàn tay xòe rộng áp sát lưng người bệnh, hai ngón tay cái đặt tĩnh tại trọng điểm để thao tác.
Thao tác: Nén tĩnh tại trọng điểm bằng lực từ tối thiểu đến tối đa theo hướng chếch từ ngoài vào trong đối với hình thái Liên Lồi Lệch, ngang từ phải qua trái hoặc ngược lại đối với hình thái Liên Lệch và hướng từ trong ra ngoài đối với hình thái Liên Lõm.
Buông trùng hai tay để người bệnh trở lại tư thế cũ, thao tác nhịp nhàng như vậy theo tốc độ quy định, đến ngưỡng thì ngừng.

C- Tư thế Nén Đứng Lướt.
Tư thế Nén Đứng bao gồm
1. Tư thế Nén Đứng oằn lưng
2. Tư thế Nén Đứng cong lưng
3. Tư thế Nén Đứng cúi oằn lưng
4. Tư thế Nén Đứng cúi gập lưng cong
5. Tư thế Nén Đứng nghiêng

1. Tư thế Nén Đứng oằn lưng ( xem hình minh họa H.19)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng lưng dưới từ D8 đến D12 có hình thái Liên Lồi.
Tạo sự chuyển động cho trọng điểm khu trú ở vùng D8 đến D12 theo hướng thẳng từ ngoài vào trong.
Tư thế: – Người bệnh: Đứng giang hai chân cách nhau 40cm, hai tay chống thẳng vào tường ở tầm ngang vai, đầu ngóc cao, oằn võng lưng.
– Thầy thuốc: Đứng thẳng ở phía sau người bệnh, hai cánh tay co hình thước thợ, hai bàn tay xòe rộng trên hai bên cơ lưng người bệnh ở tầm ngang trọng điểm, hai ngón tay cái tỳ trên trọng điểm để thao tác.
– Thao tác: Nén theo độ chếch 15o đến 45o từ trên xuống theo hướng thẳng từ ngoài vào trong áp dụng lực từ tối thiểu đến tối đa làm cho đốt sống bị dính cứng chuyển động. Sau đó buông trùng tay trả người bệnh trở lại tư thế cũ rồi lại tiếp tục thao tác nhẹ nhàng theo tốc độ quy định cho đến ngưỡng thì ngừng.

2. Tư thế Nén Đứng cong lưng ( xem hình minh họa H.20)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng lưng dưới từ D8 đến D12 và vùng thắt lưng từ L1 đến L3 có hình thái Đơn Lõm.
Tạo sự chuyển động cho các trọng điểm khu trú ở vùng lưng dưới và thắt lưng từ D8 đến L3 theo hướng từ trong ra ngoài.
Tư thế: – Người bệnh: Đứng dạng hai chân cách nhau 40cm, hai tay thẳng chống vào tường ngang tầm vai, cong gù lưng, đầu cúi lướt theo đường cong của cột sống.
– Thầy thuốc: Đứng thẳng ở phía sau người bệnh, hai cánh tay co hình thước thợ, hai bàn tay xòe rộng đặt trên hai bên cơ lưng ngang trọng điểm, hai ngón tay cái tỳ ở trọng điểm.
Thao tác: Nén theo độ chếch từ 15o đến 45o từ dưới lên trên theo hướng đã quy định của thủ thuật Bỉ từ trong ra ngoài, áp dụng lực từ tối thiểu đến tối đa làm cho các đốt sống chuyển động được. Buông trùng tay trả người bệnh trở về tư thế cũ. Thao tác nhịp nhàng theo tốc độ quy định cho đến ngưỡng thì ngừng.
3. Tư thế đứng cúi oằn lưng ( xem hình minh họa H.21)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng thắt lưng từ L1 đến L3 có hình thái Liên Lồi hay Liên Lồi Lệch.
Tạo sự chuyển động cho trọng điểm theo hướng thẳng từ ngoài vào trong đối với hình thái Liên Lồi, và theo hướng chếch từ ngoài vào trong đối với hình thái Liên Lồi Lệch
Tư thế: – Người bệnh: Đứng dạng hai chân cách nhau 40cm, hai tay chống trên điểm tỳ cao 30 đến 40cm đầu ngóc cao, lưng oằn.
– Thầy thuốc: Đứng phía sau hoặc ngang tầm trọng điểm của người bệnh, hai tay co hình thước thợ, hai bàn tay xòe đặt nhẹ trên cơ lưng người bệnh, hai ngón tay cái tỳ tại trọng điểm.
Thao tác: Dùng hai ngón cái nén thẳng từ ngoài vào trong đối với hình thái Liên Lồi và theo hướng chếch từ ngoài vào trong đối với hình thái Liên Lồi Lệch. Buông trùng tay trả người bệnh về tư thế cũ rồi lại tiếp tục thao tác nhịp nhàng cho đến ngưỡng thì ngừng.
4. Tư thế nén đứng cúi gập ( xem hình minh họa H.22)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú không quy định vùng có hình thái Lồi Lệch, Lệch hoặc Lõm chủ yếu áp dụng cho những trường hợp người bệnh có dấu hiệu tay rất hạn chế, làm cho toàn bộ cột sống chuyển động được.
Tư thế: – Người bệnh: Hai chân chụm, thẳng gối, hai cánh tay duỗi thẳng, cúi gập lưng cố gắng cho ngón tay giữa chạm đất.
– Thầy thuốc: Đứng ngang bên cạnh người bệnh, hai bàn tay xòe đặt trên lưng người bệnh, hai ngón cái đặt tại trọng điểm.
Thao tác: Nén tại trọng điểm theo hướng thẳng từ ngoài vào trong đối với hình thái Lồi, theo hướng chếch từ ngoài vào trong đối với hình thái Lồi Lệch, theo hướng từ phải qua trái hoặc hướng ngược lại đối với hình thái Lệch, hoặc theo hướng từ trong ra ngoài đối với hình thái Lõm.
Dùng lực từ tối thiểu đến tối đa làm cho các đốt sống chuyển động. Buông trùng tay trả người bệnh về tư thế cũ. Thao tác nhịp nhàng như vậy theo tốc độ quy định cho đến ngưỡng thì ngừng.
5. Tư thế Nén Đứng Lướt nghiêng ( xem hình minh họa H.23)
Mục đích: Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú ở vùng lưng dưới từ D8 đến D12 có hình thái Liên Lồi Lệch.
Tư thế: – Người bệnh: Đứng cạnh ghế, trụ trên một chân phía có cơ co, nghiêng sườn để chống tay cùng bên lên mặt ghế, chân kia gác ngang lên điểm tỳ cao từ 30 đến 40 cm, tay kia giơ thẳng lên trời.
– Thầy thuốc: Một tay nâng cánh tay giơ lên trời của người bệnh để giữ ở tư thế thích hợp theo yêu cầu, một tay nén tại trọng điểm.
Thao tác: Áp dụng lực từ tối thiểu đến tối đa theo hướng chếch 45 độ từ ngoài vào trong, hoặc theo hướng phải qua trái hay ngược lại tùy theo đốt sống Lệch. Buông trùng tay trả người bệnh về tư thế cũ xong lại tiếp tục thao tác nhịp nhàng theo tốc độ thích hợp cho đến ngưỡng thì ngừng thao tác.
6) Tư thế nén ngồi cúi gập ( xem hình minh họa H.24)
Mục đích: – Giải tỏa các đốt sống bị dính cứng khu trú trong vùng từ D8 đến S5 có hình thái Liên Lồi, Liên Lệch hoặc Liên Lõm.
Tạo cho trọng điểm chuyển động được theo hướng thẳng từ ngoài vào trong đối với hình thái Liên Lồi, theo hướng ngang từ phải qua trái hoặc ngược lại đối với hình thái Liên Lệch, và theo hướng từ trong ra ngoài đối với hình thái Liên Lõm.
Tư thế: – Người bệnh: Ngồi trên ghế, hai chân giang rộng, gục đầu trên hai cánh tay vòng đỡ trán, lưng thẳng.
– Thầy thuốc: Đứng cúi, hai cánh tay thẳng, hai bàn tay xòe rộng trên lưng người bệnh, hai ngón cái đặt tĩnh tại trọng điểm các ngón tay kia đặt trên cơ lưng người bệnh để thao tác.
Thao tác: Nén tĩnh tại trọng điểm, áp dụng lực từ tối thiểu tới tối đa theo quy định của nguyên tắc định lực đối với vùng từ D8 đến S5 theo hướng đã quy định làm cho cột sống chuyển động. Trùng tay nén để trả người bệnh về tư thế cũ, sau đó lại tiếp tục thao tác nhịp nhàng cho đến ngưỡng thì ngừng.

TÓM TẮT VỀ PHƯƠNG THỨC NÉN
Mục đích của phương thức Nén trên đây là tác động để tạo cho các đốt sống bị dính cứng một sự chuyển động đúng với yêu cầu của thầy thuốc.
Phương thức Nén không có giá trị triệt để trong giải tỏa hình thái trọng điểm để trị bệnh, vì phương thức Nén chỉ mới giải tỏa được các hình thái của các đốt sống bị dính cứng mà không có khả năng giải tỏa các hình thái bệnh lí của các lớp cơ đệm.
Do đó sau khi đã áp dụng phương thức Nén lại phải tiếp tục áp dụng phương thức Sóng thì mới giải tỏa được ổ rối loạn một cách triệt để.
Khi thao tác bao giờ cũng thực hiện chuyển động ban đầu từ lực tối thiểu đến tối đa, nhưng khi áp dụng lực tối đa thì nên tạo một động tác đột ngột thì hiệu quả cao.
Khi Kéo phải tùy thuộc vào sự di chuyển của trọng điểm mà kéo theo độ chếch, có thể từ 45 độ đến 90 độ hoặc có thể hơn nữa.
Phương thức nén bao gồm 24 tư thế
-4 tư thế Nén Kéo
-4 tư thế Nén nâng
-4 tư thế Nén vít
-12 tư thế Nén tĩnh, gồm
+ 3 tư thế Nằm sấp
+ 2 tư thế Nén đứng
+ 1 tư thế Đứng nghiêng
+ 3 tư thế Nằm nghiêng
+ 2 tư thế Đứng cúi
+ 1 tư thế Ngồi cúi gập

Ghi chú: Các phương thức chẩn bệnh thuộc tài liệua phát hành năm 1998 sẽ được đăng sau. …(100-116)

Trân trọng cảm ơn.
ThS – LY Nguyễn Đình Thảo (Thảo Sen Nam)
Thông tin góp ý xin liên lạc theo địa chỉ email: sennam.thao@gmail.com Điện thoại: 0918 260 196

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *