Cách chữa bệnh cao huyết áp theo Đông Tây Y

Phần 3 trong Câu chuyện Đông Y (Tập 3a) – Tác giả Đỗ Đức Ngọc

Cách chữa bệnh cao huyết áp theo Tây Y

Tên thuốc thương mại mang nhiều tên khác nhau, nhưng các nhóm thuốc để phối hợp trị bệnh cao huyết áp gồm có:

1-Thuốc lợi tiểu, có 3 loại:

a- Lợi tiểu hạ Kali-huyết b. Lợi tiểu giữ Kali-huyết c-Lợi tiểu phối hợp.

2-Thuốc phong bế giao cảm có hai nhóm:

a-Phong bế giao cảm tác dụng trong nơ-ron.

b- Tác dụng lên thụ thể trung ương loại alpha, loại béta.

3-Thuốc giãn mạch.

4-Thuốc chẹn dòng calci.

5-Thuốc ức chế chuyển dạng Angiotensin

Theo hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới, cách trị bệnh cao huyết áp chia ra 3 giai đoạn:

Giai đoạn một:

Bệnh nhân dưới 45 tuổi, dùng thuốc chẹn béta. Bệnh nhân trên 45 tuổi, dùng thuốc lợi niệu. Dùng liều trung bình, nếu cần, tăng liều dần, nếu không có kết quả chuyển sang giai đoạn hai.

Giai đoạn hai:

Phối hợp cả hai vừa thuốc chẹn béta vừa thuốc lợi niệu, liều tăng dần, nếu không có kết qủa chuyển sang giai đoạn ba.

Giai đoạn ba:

Phối hợp thuốc chẹn béta, lợi niệu và một trong các loại thuốc khác như:

Hydralazine (thuốc giãn mạch).

Méthyldopa hoặc Clonidine tác dụng lên thụ thể trung ương.

Hoặc Guanéthidine (tác dụng trong nơ-ron)

Nếu chưa bớt thì dùng 2 trong 3 loại thuốc kể trên.

Khi có chống chỉ định dùng thuốc chẹn béta, đổi công thức như sau:

Giai đoạn một: Lợi niệu.

Giai đoạn hai: Lợi niệu và Alpha Méthyldopa hoặc Clonidine.

Giai đoạn ba: Lợi niệu và Alpha Méthyldopa hoặc Clonidine và thuốc giãn mạch.

Trường hợp áp huyết dao động, không cao lắm không cần dùng thuốc.

Về ăn uống: Cữ rượu, giảm chất béo, hạn chế ăn muối. Về tinh thần: Tránh stress, thư giãn, bỏ thuốc lá, cà phê, có thể dùng thuốc an thần nhẹ.

Về vận động: Thực hành thư gìãn.

Cách chữa bệnh cao huyết áp theo phương pháp đông y

Phương pháp chữa bệnh cao huyết áp của đông y đa dạng, hoàn toàn khác hẳn Tây y. Có nhiều vị bác sĩ Tây y học qua đông y, hiểu biết tường tận về phương pháp lý luận âm dương ngũ hành  đều  có  chung  một  nhận  xét :  Tây  y  chữa  vào organes, đông y chữa vào systèmes.

Một thí dụ đơn giản A đánh nhau với B.

Cách giải quyết của Tây phương nhờ cảnh sát can thiệp, người bị thương đi bệnh viện, người có tộI đi tù.

Như vậy chưa giải quyết được nguyên nhân, sau hai người gặp lại nhau sẽ đánh nhau nữa.

Cách giải quyết của Đông phương là can gián sự xung đột, tìm người liên hệ là mẹ hay con của A hoặc B để xử lý theo nguyên tắc con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con .

Trường hợp A thực ,có lỗi đã gây chuyện với B. B yếu thế hơn gọi là , cần mẹ giúp sức để có cách tự bảo vệ mình làm cho A không dám đánh, hoặc B dọa nếu A đánh nó, nó sẽ đánh con của A làm A sợ không dám gây chuyện nữa, sau này hai người có gặp lại nhau cũng không đánh nhau nữa, đó là cách chữa gốc thuộc bản, can  thiệp là chữa ngọn thuộc tiêu .

Nguyên tắc chữa cao huyết áp của đông y là Đối chứng trị liệu lâm sàng do đó khi khám bệnh phải tìm được nguyên nhân gốc do chứng nào làm ra, mới có thể dùng phương pháp đối chứng trị liệu lâm sàng được. Đối chứng trị liệu lâm sàng có nhiều cách như hư thì bổ, thực thì tả, nhiệt thì làm mát, làm mất nhiệt, hàn thì làm ấm theo nguyên tắc con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con .Tuy nhiên, đông y phải chọn cách nào tối ưu để điều chỉnh lại sự khí hóa âm dương, ngũ hành của tổng thể, lập lại quân bình hòa hợp sự hoạt động của tạng phủ về cả ba phương diện khí hóa là TINH- KHÍ-THẦN, làm cho hòa hợp, cơ thể sẽ khỏe mạnh tự hết bệnh tật.

1-Cách chữa bệnh cao huyết áp bằng điều chỉnh yếu tố do TINH:

Là điều chỉnh lại sự ăn uống, thuốc men làm sao cho phù hợp với nhu cầu của cơ thể mà không làm hại cơ thể căn cứ vào chứng.

Thí dụ bệnh thuộc âm, hư, hàn, cần ăn uống và thuốc men có tính chất thuộc âm giúp cho âm bổ mạnh lên, có tính chất làm ấm để trị hàn. Chống chỉ định là không được ăn hoặc uống thuốc làm cho âm hư thêm, hàn thêm.

Thí dụ bệnh âm hư, dương hư, âm thuộc huyết, dương thuộc khí, cần ăn hoặc uống thuốc phải bổ được cả

khí cả huyết, nếu cơ thể hàn phải chọn loại bổ có tính tăng nhiệt, nếu cơ thể nhiệt, phải chọn loại bổ có tính làm mát, thanh nhiệt..

Nếu điều chỉnh TINH đúng, cơ thể sẽ hấp thụ và chuyển hóa thức ăn, uống và thuốc men giúp cơ thể lập lại quân bình, khí huyết lưu thông đầy đủ, cơ thể biến chuyển tốt hơn, mạnh hơn, bệnh sẽ thuyên giảm, mau bình phục. Ngược lại, thức ăn uống, thuốc men dù bổ nhưng không hợp đúng với nhu cầu cơ thể cần sẽ làm cho cơ thể tiêu hao năng lượng để đào thải ra ngoài khiến cơ thể suy yếu dần.

Điều chỉnh TINH đúng nhu cầu, sự khí hoá sẽ sinh khí sinh huyết nuôi dưỡng và bảo vệ cơ thể khỏe mạnh phòng chống bệnh hữu hiệu, điều chỉnh sai không đúng nhu cầu sẽ hao mất khí mất huyết khiến cơ thể suy nhược bệnh trở nên trầm trọng.

2-Cách chữa bệnh cao huyết áp bằng Điều chỉnh yếu tố KHÍ:

Là chú trọng đến sự tuần hoàn của khí và huyết trong cơ thể xem thiếu hay đủ, thông hay tắc, thuận hay nghịch, mạnh hay yếu, nóng hay lạnh.

Sự thiếu hay  đủ khí  huyết  lệ  thuộc  và  sự  điều chỉnh ăn uống (yếu tố tinh).

Sự thông hay tắc ở ống mạch tuần hoàn hoặc ở đường kinh dẫn khí lưu thông phải nhờ vào châm cứu day bấm huyệt để giải tắc, tán tà. Sự  thuận  hay  nghịch  chiều  lưu  thông  của  khí huyết phải nhờ vào thuốc hoặc bằng ngoại dược (thuốc uống) hoặc nội dược (thuốc tự cơ thể tiết ra do kích thích huyệt) để làm cho khí huyết đi thuận đường kinh, hoặc qua chức năng của huyệt có thể tái lập lại chương trình hoạt động của hệ thần kinh trung ương làm cho nó có thể kiểm soát được sự khí hoá của kinh mạch tạng phủ, hòa hợp được sự quân bình của cả tổng thể âm dương ngũ hành về hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục được tốt.

Sự mạnh hay yếu phải nhờ vào sự vận động, thể dục thể thao, bơi lội, dưỡng sinh, tập luyện khí công. Về phương diện phòng bệnh, đông y chú trọng đến khí công dưỡng sinh. Về phương diện chữa bệnh trực tiếp cho từng loại bệnh, đông y chú trọng đến khí công chữa bệnh gồm hai phần tĩnh công và động công, giúp cho tăng khí huyết, lưu thông mạnh hơn, thuận theo chiều kinh mạch, hợp với nhu cầu cơ thể cần, có loại khí công cơ thể không cần sẽ làm cho hư thêm hư, thực thêm thực ,không chữa được bệnh mà khiến bệnh trở nặng thêm, vì khí công chữa bệnh cũng phải thuận với khí của ngũ hành mà cơ  thể đang cần mới có thể chữa được bệnh.

3-Cách chữa bệnh cao huyết áp bằng Điều chỉnh yếu tố THẦN:

Thánh nhân từng nói: ‘’Điềm đạm hư vô, thân nào mà bệnh tật ‘’chứng tỏ yếu tố tinh thần rất cần thiết trong việc chữa bệnh.

Qủa thật đa số bệnh do yếu tố tinh thần như lo âu, buồn rầu, bực tức, bất mãn, vộI vã, căng thẳng, sợ hãi, nóng nẩy giận dữ, chán đời bị ảnh hưởng bởi đời sống, môi trường sinh hoạt cũng làm tổn thương thực thể hoặc làm xáo trộn sự quân bình khí hóa của âm dương ngũ hành tạng phủ.

Như vui qúa hại Tim, áp huyết tim mạch đập bất bình thường, loạn nhịp, hại thần kinh, cổ nhân thường nói vui qúa hóa điên dại vì tinh thần mất tự chủ để kiểm soát hành động cử chỉ qúa trớn của mình.

Lo qúa ăn mất ngon hại Tỳ Vị  làm không muốn ăn, hoặc ăn không tiêu hóa, thức ăn chứa lâu trong bao tử không chuyển hóa sẽ lên men làm loét bao tử.

Buồn quá hại Phổi,  hay thở ra làm teo phổi, thở ra nhiều mà không hít vào nhiều làm máu thiếu oxy, tuần hoàn huyết chậm lại sẽ suy nhược thần kinh, cơ thể gầy yếu, kém trí nhớ, ưa thở dài gây đau nhói tim ngực, ở phụ nữ thời kỳ cho con bú sẽ mất sữa, nếu không sẽ dẫn đến bệnh ung thư vú.

Sợ qúa hại thận, thực tế sợ qúa toát mồ hôi, vãi đái, xanh mặt, đều hại đến thần kinh và tế bào não..

Giận qúa bầm gan tím ruột  hại đến sự hoạt động của gan, khiến các gân co rút, chân tay run rẩy, nếu có bệnh cao huyết áp, các ống mạch thắt hẹp lại máu sẽ dồn lên não làm đứt mạch máu não hoặc sung huyết não sinh tê liệt, bán thân bất toại, hôn mê (coma).

Muốn điều chỉnh được tinh thần thì cứ để mọi chuyện tự nhiên, không vui qúa, không buồn qúa, không giận qúa, không lo qúa, không sợ qúa. Cần định tâm bằng cách thư giãn hoặc tập tĩnh công để dưỡng thần, tham dự các buổi sinh hoạt tập thể nhẹ nhàng, ca hát, bơi lộI, thể dục nhịp điệu.. Khi mắt thấy tai nghe những điều gì bất ý, tâm dừng lại không phân tích đào sâu vào chi tiết diễn tiến của sự việc để tâm đừng dấy động..

Nguyên tắc chữa bệnh của đông y là sau khi định được bệnh chứng sẽ có phương pháp đối chứng trị liệu tùy theo nguyên nhân, và áp dụng cả ba yếu tố tinh-khí-thần trong việc trị liệu.

4-Áp dụng phương pháp đông y chữa bệnh cao huyết áp

Theo đông y, bệnh cao huyết áp mãn tính có 4 trường hợp thường gặp, cách chữa sẽ tùy theo mỗi trường hợp mỗi khác tùy theo nguyên nhân gây bệnh:

Trường hợp một:Do dương cang can nhiệt chứng

Đối chứng trị liệu: Dùng phép Thanh nhiệt ,bình can.

Theo đông y, gan chứa huyết, trong huyết có dư calci làm máu nóng tụ ở gan sinh ra gan bị nhiệt, máu dãn nở thể tích làm căng các ống dẫn máu sẽ gây ra bệnh sung huyết não.

a-Điều chỉnh TINH:

Những loại nước uống hay thức ăn phải làm cho mát gan, mát máu, không được ăn uống những thứ làm tăng nhiệt nóng máu hại gan.

Về dược thảo:

Dùng các vị Quyết minh, sinh địa, hạ khô thảo, xa tiền thảo, cúc hoa, hy thiêm thảo. Tỷ lệ phần trăm các loại thuốc phù hợp với nhu cầu cơ thể do tỷ lệ phần trăm của bát cương âm dương, hư thực, hàn nhiệt, biểu lý ở mỗi người mỗi khác, do thầy thuốc đông y khám và định phân lượng, phải vừa đúng, đủ, thích hợp để tạo ra năng lượng khí hóa, nếu thiếu sẽ không đủ sức khí hóa, nếu dư làm cơ thể hao tốn thêm năng lượng để đào thải ra ngoài cơ thể, nếu không đào thải, chất dư thừa tích lũy lại tạo thành biến chứng một bệnh khác.

b-Điều chỉnh KHÍ:

Bằng nội dược (dùng huyệt):

Can huyết nhiệt thịnh phải tả con của can mộc ở kinh Tâm Bào hỏa là huyệt Đại Lăng bên trái để hạ hỏa, bấm Thái Xung ở kinh can trái để chỉnh lại can khí. Đó là hai huyệt chính thuộc quân thần trong một thế trận, thầy châm cứu phải thêm các huyệt khác phò tá, hổ trợ, dẫn đạo cho đầy đủ liều lượng quân, thần, tá, sứ để thành bài thuốc.

Bằng khí công chữa bệnh:

Động công:Tập các động tác hạ hỏa, tăng thủy,(thế tấn ngũ hành bổ phế, bổ thận) và động tác điều hòa âm dương.

Áp dụng động công bằng bài thể dục khí công, hạc tấn mở mắt.

c-Điều chỉnh THẦN:

Tập tĩnh công, nằm ngửa hai tay úp trên bụng dưới nơi đan điền tinh (huyệt khí hải, quan nguyên), cuốn  lưỡi,  ngậm  miệng  nối  Nhâm  Đốc  điều  hòa  âm dương, để kích thích nước miếng trào ra cổ họng không bị khô, tránh tẩu hỏa nhập ma, thở bình thường, nhắm mắt tập trung ý vào bụng dưới xem mạch đập hoặc khí ở bụng dưới đập vào lòng bàn tay càng nghe rõ càng có kết qủa tăng thủy để khắc chế hỏa giúp cho cơ thể tăng cường khí huyết lưu thông giúp thân nhiệt trở nên mát, tiêu hóa tốt, ăn ngủ ngon, hạ áp huyết.

Trường hợp hai: do chứng âm hư dương can:

Đối chứng trị liệu: Dùng phép Tư thận, bình can.

Theo đông y, âm hư là gan tổn thương, con hư phải bổ mẹ là bổ thận. Dương can là gan khí thực, do can âm hư thì can dương vượt lên làm lệch quân bình, phải bình can là điều hòa lại sự khí hóa của gan trở lại quân bình cho âm dương bằng nhau, dương khí của gan sẽ đi xuống trở về gan sẽ làm giảm áp lực của các ống mạch máu.

a-Điều chỉnh TINH:

Những loại nước uống và thức ăn làm cho thận chuyển hóa chất bổ nuôi con là gan âm mà không làm cho can khí dương tăng lên trên đầu.

Về dược thảo:

huyền sâm, bạch truật, hoài ngưu tất (cho khí xuống chân), câu đằng, chích quy bản, thiên đông, con hào sống.. liều lượng do thầy thuốc định theo tỷ lệ bát cương cho đúng và đủ thành thế trận quân thần tá sứ.

b-Điều chỉnh KHÍ:

Bằng nội dược: (dùng huyệt):

Bổ thận âm bằng huyệt Phục Lưu làm tăng thận âm, bổ Thái Khê để thông kinh thận và chuyển hóa nuôi gan. Bình can bằng huyệt Thái Xung giúp gan khí đi xuống về gan. Bổ Can Du thông khí hoạt động của gan.Huyệt Phục Lưu làm quân, Thái Khê làm thần,Thái Xung làm tá, thêm huyệt làm sứ thành thế trận.

Bằng khí công chữa bệnh:

Động công:Tập các động tác làm mạnh Phế thận (bài vỗ tay 4 nhịp). Phế khí chủ đi xuống, can khí thuộc mộc vượng đi nghịch lên bị phế kim mạnh sẽ khắc mộc đẩy can khí về gan. Phế khí kim mạnh giúp thận thủy chuyển hóa, lọc máu, giúp gan lọc và thải độc trong gan.

Tĩnh công: Như bài trên, giúp bổ âm, tăng thủy, hạ hỏa.

c-Điều chỉnh THẦN:

Tập tĩnh công: Nằm nghỉ, để hai bàn tay úp vào nơi rốn, tai nghe mạch đập dưới lòng bàn tay, hơi thở bình thường, nhắm mắt, cuốn lưỡi lên vòm họng trên, nghe có cảm giác dưới hai bàn tay nóng ấm, khí tụ tại Đan điền tinh làm mạnh thận, tăng cường hệ thống miễm nhiễm, áp lực huyết dồn về bụng, giúp bổ âm tăng thủy, hạ hỏa , hạ áp huyết.

Trường hợp ba: chứng can thận âm hư:

Đối chứng trị liệu: Dùng phép:Tư can bổ thận.

Theo lý thuyết đông y ‘’âm hư hỏa vượng’’ hoặc

‘’âm hư sinh nội nhiệt‘’, người lạnh mà hai bàn tay đỏ, hâm hấp nóng, gọi là hư hỏa, phải bổ can âm và thận âm để cho can khí và thận khí không thoát ra theo đường mồ hôi làm mất âm huyết thêm.

a-Điều chỉnh TINH:

Những loại nước uống và thức ăn phải ấm nóng, không được lạnh, không làm thoát dương theo đường mồ hôi, và không được kích thích cho đi tiểu nhiều mới bảo tồn được âm dương.

Về dược thảo:

Kỷ cúc, địa hoàng, huyền sâm, bạch truật, hoài ngư tất, đơn bì, câu đằng, tùy theo bát cương định tỷ lệ liều lượng của quân thần tá sứ.

b-Điều chỉnh KHÍ:

Bằng nội dược (dùng huyệt):

Bổ thận âm bằng huyệt Phục Lưu, Thái Khê , hai huyệt này làm quân. Bổ can âm bằng huyệt Khúc Tuyền, bổ âm, tồn âm huyết bằng huyệt Khí Hải, Quan Nguyên, ba huyệt này làm thần. Dùng huyệt Tam âm Giao làm tá. Cho thuốc chạy vào gan thận thì dùng Can du và Thận du làm sứ.

Bằng khí công chữa bệnh:

Động công: Tập thế đứng tấn ngũ hành chuyển khí vào thận.

c-Điều chỉnh THẦN:

Tĩnh công: Như bài tập trên, nằm ngửa hai bàn tay đặt úp lên bụng dưới, cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bình thường, theo dõi hơi thở phồng-xẹp nơi bụng dưới, để chuyển âm khí tụ về Khí Hải, Quan Nguyên, để bổ dưỡng huyết, mát máu, ăn ngủ được.

Trường hợp bốn: Chứng âm dương lưỡng hư:

Đối chứng trị liệu: Dùng phép Tư âm ôn thận.

Theo đông y, âm dương lưỡng hư là cả khí và huyết đều thiếu ở gan và thận. Gan trữ máu, thận lọc máu đều không hoạt động tốt, cần phải phục hồi chức năng của gan thận và bổ cả khí và huyết. Bệnh cao huyết áp trong trường hợp này có tổn thương thực thể ở gan hoặc thận, không đủ khí huyết tuần hoàn làm tim phải co bóp mạnh, làm thất trái qủa tim bị dầy khiến cơ tim bị căng, để lâu không chữa sẽ suy tim.

a-Điều chỉnh TINH:

Nước uống, thức ăn phải nóng ấm, nhẹ, dễ tiêu, có dược tính làm mạnh gan thận.

Về dược thảo: Có Đỗ trọng, sinh địa, thục địa, huyền sâm, tang ký dinh, hoài ngưu tất, ích trí nhân. Tùy theo bát cương định tỷ lệ quân thần tá sứ.

Nếu do đờm tắc làm tức ngực, khó thở, buồn nôn thêm Pháp bán hạ, toàn qua lâu.

b-Điều chỉnh KHÍ:

Bằng nội dược (dùng huyệt):

Hơ bổ huyệt Chiên Trung làm quân để tăng cường tông khí giúp vinh vệ khí hoạt động tốt. Dùng huyệt Trung Quản tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn giúp sinh khí huyết, dùng huyệt Khí Hải làm mạnh thận âm, hơ bổ huyệt Quan Nguyên  làm mạnh chức năng thu rút chất bổ của thức ăn biến thành máu bổ sung nuôi dưỡng gan, tỳ, thận, ba huyệt này làm thần. Dùng huyệt Thiên Xu làm mạnh hệ tiêu hóa, bài tiết độc tố theo đại tiện ra ngoài cơ thể, và bổ Thận du giúp thận nạp được âm khí, hai huyệt này làm tá. Tất cả hiệu lực của thuốc âm khí âm huyết phải được chuyển hóa thành dương khí làm mạnh hệ miễn nhiễm, sinh tinh hóa tủy nuôi não, nuôi tế bào, thần kinh và thải độc, cần phải dùng huyệt Mệnh Môn làm sứ để dẫn thuốc vào Mệnh môn, giúp thận âm hóa khí, đồng thời Mệnh Môn tự điều chỉnh lượng nước, acide, muối, và đường trong máu, giúp cho sự chuyển hóa của gan, tỳ, vị, thận hoạt động đều mạnh.

Bằng khí công chữa bệnh:

Động công: Bài tập Cào đầu, giúp hệ thần kinh tỉnh táo, hầu có thể kiểm soát được mọi chức năng hoạt động của cơ thể và làm tăng sức đề kháng của cơ thể.

Bài tập Vỗ tay bốn nhịp, để tăng cường tông khí, thêm oxy cho phế khí, tăng hồng cầu, mạnh tiêu hóa, tăng sức hấp thụ, mạnh cột sống, mạnh gan thận, tăng cường hệ miễn nhiễm.
Bài tập Điều hòa âm dương, để thăng thanh giáng trọc, khí huyết được lưu thông từ đầu xuống chân, chỉnh lại hai bán cầu não.

c-Điều chỉnh THẦN:

Tập tĩnh công: Nằm quán hơi thở ở hai bàn tay úp nơi đan điền thần (trên xương ức nơi giao điểm của hai xương sườn nơi ngực, mỏm đầu xương mũi kiếm). Tâm không nghĩ những chuyện bên ngoài thân, chỉ chú ý tập trung lắng nghe hơi thở tự nhiên và nhịp mạch đập ở dưới hai bàn tay. Bài tập này giúp tăng dương khí chuyển hóa của lục phủ ngũ tạng giúp cơ thể ấm, tăng tính tiêu hóa và hấp thụ nhanh.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *