Chữa bách bệnh với bài tập Khí Công Y Đạo Vỗ tay 4 nhịp

vỗ tay 4 nhịp

Số lượng: 60-100 lần. Mỗi lần gồm 4 bước sau-trên-sau-trước.

Kĩ thuật tập

Bài tập này có 4 động tác vỗ tay ở 4 vị trí: sau-trên-sau-trước. (hình chữ L).

Chuẩn bị

  • Hai chân dang rộng hơn hai vai,
  • Hai cánh tay và cùi chỏ để thẳng, không được căng cứng, không được để cong trong lúc tập, hai bàn tay xòe,
  • Lưỡi cuốn cong lên vòm họng trên, lúc tập nước miếng dễ dàng tiết ra để điều chỉnh âm dương cho thân nhiệt sau khi tập không bị nóng qúa làm mất nước khô họng,
  • Chỉ hít thở bằng mũi.

Tập làm quen với động tác như thể dục

Trước hết chúng ta tập vỗ tay 4 nhịp để ở 4 vị trí sau-trên-sau-trước cho quen, chưa cần chú trọng đến hơi thở. Thí dụ chúng ta ra lệnh thầm trong đầu để cho hai tay thi hành như sau

Một sau, hai trên, ba sau, bốn trước. Một sau, hai trên, ba sau, bốn trước. Một sau, hai trên, ba sau, bốn trước..

  • Nhịp một sau: Lưng ngửa ra vỗ hai bàn tay ra sau lưng.
  • Nhịp hai trên: Lưng vẫn ngửa, hai tay dang ngang, lòng bàn tay ngửa, hai cánh tay đưa thẳng lên cao trên đầu, ngửa cổ mắt nhìn theo bàn tay khi hai bàn tay vỗ vào nhau.
  • Nhịp ba sau: Lưng vẫn ngửa, nhưng hơi cúi cổ, quay đâu lưng bàn tay ,dang thẳng hai cánh tay sang ngang vai xuống ra sau mông rồi vỗ vào nhau.
  • Nhịp bốn trước: Lưng cổ cúi về phía trước cho trán xuống ngang với tim, hai cánh tay thẳng, hai bàn tay vỗ vào nhau phía trước bụng dưới là xong nhịp bốn, không có nhịp nghỉ, lại tiếp tục vỗ tay nhịp một sau, nhịp hai trên, nhịp ba sau, nhịp bốn trước. cứ thế vỗ đều liên tục.
Vỗ tay 4 nhịp

Tập làm quen với hơi thở trong bài vỗ tay 4 nhịp

Bài tập này có 4 động tác thực hiện trong một hơi thở gồm một lần hít vào và thở ra. Thời gian hít vào thở ra bằng nhau.

Khi bắt đầu tập, trong đầu chúng ta ra lệnh thầm chữ HÍT, chúng ta hít hơi vào từ từ. Khi hơi vào đầy phổi một cách tự nhiên vừa đủ không căng cứng lồng ngực, chúng ta chấm dứt, trong đầu ra lệnh thầm chữ VÀO. Khi bắt đầu thở ra, trong đầu ra lệnh thầm chữ THỞ, hơi thở ra từ từ bằng mũi cho đến khi chấm dứt hơi thở, trong đầu ra lệnh thầm chữ RA. Trong đầu ra lệnh thầm liên tục, đều đặn bốn lệnh hít vào – thở ra, hít vào – thở ra, hít vào – thở ra, hít vào – thở ra…

Tập bốn nhịp theo khí công

Bài tập có hai thì, thì một hít vào và thì hai thở ra. Mỗi thì có 2 động tác vỗ tay ở hai vị thế phải đi theo hơi thở nhẹ, chậm, đều, liên tục, người ngoài không nghe được tiếng thở của mình, chỉ nghe được tiếng vỗ tay đều.

Tập liên tục, đều, xong 60 lần, hơi thở vẫn đều, nhẹ, không cảm thấy mệt là tập đúng, nếu thấy mệt là đã tập nhanh qúa, hoặc hai cánh tay căng cứng dùng sức nhiều qúa, cánh tay, vai, cùi cho và bàn tay phải mềm, vỗ thành tiếng kêu lớn mà không đau 2 bàn tay là đúng.

  • Thì một HÍT VÀO: (hai động tác nhịp sau,trên). Hai tay chuẩn bị để ở vị trí nhịp trước, (trước bụng), cuốn lưỡi ngậm miệng, khi bắt đầu hít hơi vào thì hai tay đưa ra sau, ngửa lưng vỗ vào nhau kêu tiếng bốp (ở nhịp sau), tiếp tục giơ hai tay ngang vai lên cao, ngẩng đầu nhìn hai bàn tay phía trên đầu, vỗ kêu tiếng bốp, là dứt thì hít vào.
  • Thì hai THỞ RA: (hai động tác nhịp sau, trước). Khi bắt đầu hơi thở ra, hai cánh tay thẳng, dang ngang, đưa xuống sau mông, vỗ kêu bốp ở nhịp sau, tiếp tục đưa hai tay ra phía trước bụng, cúi lưng, cúi cổ xuống đất nhìn hai bàn tay vỗ trước bụng kêu tiếng bốp là dứt thì thở ra.

Tần suất và số lượng

Tập khí công đúng là hơi thở phải nhẹ, đều, không bị ngắt đoạn bởi phải chờ động tác, như vậy là hơi thở và động tác bị trật nhịp, không hoà hợp đồng bộ. Do đó, người ta thở nhẹ nhàng, không dùng lực để hít vào, không gọi là “hít vào thở ra”, mà gọi là “thở vào thở ra”. Tập đúng cách, móng tay và mặt sẽ hồng hào, rịn mồ hôi trán. Khi động tác vỗ tay bốn nhịp theo hơi thở đều đặn, tập không nhanh không chậm sao cho sau khi tập xong không cảm thấy mệt.

  • Tập xong hai thì, kể là một cái.
  • Một ngày tập nhiều lần, mỗi lần 60 cái.
  • Người bình thường, không bệnh tật: tập 60-100 cái.
  • Trung bình 18 hơi thở vào thở ra / phút. Tập 60 cái vỗ tay 4 nhịp trong 3 phút.
  • Người có hơi thở sâu là 10-12 hơi thở ra thở vào/phút. Tập 60 cái cái vỗ tay 4 nhịp trong 5 phút. Tần suất này là tốt nhất.

Chia làm nhiều lần trong ngày, mỗi lần 60 cái, nếu đo thời gian trung bình 1 phút 18 hơi thở ra thở vào thì mỗi lần tập mất khoảng 3 phút. Tập nhiều ngày điều chỉnh hơi thở sâu và lâu hơn mà không thấy mệt thì 1 phút tập được 10-12 hơi thở ra thở vào mất khoảng 5 phút là tập xong.

Mục đích của bài tập vỗ tay 4 nhịp

Bài tập Vỗ tay 4 nhịp gần như chữa được bá bệnh.

1- Vỗ tay 4 nhịp chữa bệnh đau nhức phong tê thấp ở vai, cánh tay, cùi chỏ, bàn tay, ngón tay

Khi vỗ tay, cánh tay nâng lên, đưa xuống chậm, đều, giúp khai mở các huyệt ở tay, thông những chỗ bế tắc mà trước kia khí huyết không đến được đã làm ra bệnh sưng đau nhức, co cứng hoặc cánh tay yếu vô lực. Nếu tập đúng, khi hai bàn tay hạ xuống dưới ,nhìn lòng bàn tay và ngón tay phải có máu dồn xuống trở nên mầu hồng đỏ, khi bàn tay và cánh tay nâng cao để vỗ phía trên đầu, máu đi xuống, về tim, nhìn lòng bàn tay phải có mầu trắng, như vậy là khí huyết đã thông thuận theo chiều lên xuống của cánh tay, bàn tay vỗ mạnh làm cho bàn tay bị lạnh sẽ ấm lên, các đầu kinh mạch trên các đầu ngón tay được kích thích làm thông với tạng phủ.

2- Vỗ tay 4 nhịp điều chỉnh hơi thở và nhịp đập của tim mạch

Điều chỉnh hơi thở và nhịp đập của tim mạch, chữa bệnh suyễn, dị ứng, bệnh phổi có nước, hẹp van hở van tim, nhồi máu cơ tim :
Một người khỏe mạnh bình thường thở 1phút 18 hơi. Khi cơ thể có bệnh tim mạch, suyễn, suy nhược, bệnh phổi, hơi thở sẽ ngắn và dồn dập, gấp gáp, đứt đoạn, khò khè, số lần thở cao hơn, có thể 30, 40, 50..100 lần tùy theo tình trạng bệnh nhẹ hay nặng.

Khi tập vỗ tay bốn nhịp, hơi thở tự nhiên được điều chỉnh chậm lại và đều, người bị bệnh sẽ có được hơi thở bình thường cho đến khi hết bệnh, người khỏe mạnh sẽ có được hơi thở chậm, nhẹ, sâu, đều, trung bình 12 hơi trong một phút giúp tim đập mạnh, đều theo nhịp lên xuống của tay sẽ làm mạnh cơ tim chữa được bệnh tim đập mất nhịp, bệnh hở van tim, hẹp van tim, nhồi máu cơ tim, máu bị vón cục, máu có bọt, vì khi máu từ tim ra theo động mạch, và tim bị phổi nâng lên ép xuống liên tục khiến tim đập đều đặn như nhồi sóng, dòng máu sẽ lưu thông trôi chảy vào tận các khe kẽ, xương khớp nơi đã bị tắc khí huyết làm đau nhức phong thấp, nơi có máu vón khô hóa vôi bị đẩy xuống thận thải lọc ra ngoài, máu có bọt đi theo tuần hoàn lên xoang phổi thu hồi và trao đổi oxy biến máu đen oxit sắt hai (Fe2O2) thành máu đỏ oxít sắt ba (Fe2O3) về tim tuần hoàn liên tục.

Chúng ta không nên tập cho hơi thở chậm hơn nữa, nếu không, sẽ có tình trạng hơi thở xáo trộn, vì trong khi tập qúa chậm hơi thở bị nén lại, sau khi tập, hơi thở lại càng nhanh gấp hơn để bù lại, như thế là tập sai. Nếu đứng trước đồng hồ để theo dõi hơi thở, trung bình 3 phút vỗ tay tập được 54 hơi thở, sau đó từ từ hơi thở được đều và chậm một cách tự nhiên xuống còn 51 hơi, 48 hơi, 45 hơi, 42 hơi, 39 hơi , và 36 hơi là lý tưởng. Sau đó giữ đều đặn cách tập 12 hơi trong một phút cho thành thói quen, giúp cho khí huyết tuần hoàn mạnh hơn, số lượng oxy vào phổi nhiều hơn làm tăng hồng cầu, số lượng CO2 giữ trong cơ thể lâu hơn làm cho cơ thể ấm, và thải ra số lượng nhiều hơn làm xuất mồ hôi, thải độc tố trong máu. Khi hơi thở đều đặn thì nhịp đập của tim mạch cũng đều, mạnh, có lực, bệnh suyễn và bệnh thiếu khí ưa ngộp thở, ho cảm cúm, đau nhức, dị ứng thời tiết sẽ hết.Trường hợp phổi có nước do hơi thở yếu làm nghẹt xoang, bài tập này giúp xoang phổi nở ra, hơi thở được mạnh hơn làm tăng nhiệt, lỗ chân lông mở ra thoát hơi nước bằng đường mồ hôi, nước còn lại theo máu tuần hoàn xuống thận lọc và đào thải ra ngoài.

3- Vỗ tay 4 nhịp Chữa cholestérol, cao áp huyết, nhức đầu chóng mặt, suy tim, mỡ bao màng tim và các ống mạch

Khi tim đập yếu do suy tim, hoặc có cholestérol trong ống mạch và màng mỡ bao tim, làm nghẹt máu lưu chuyển trong ống dẫn máu khiến nhịp tim đập bất bình thường.

Bài tập này giúp cho hoành cách mô được nâng lên mở rộng buồng phổi, cơ tim được giãn ra ở thì thở vào được sâu, chứa được nhiều oxy. Ở thì thở ra, hai lá phổi và hoành cách mô ép lại giúp tim co bóp đẩy khí huyết lưu thông mạnh hơn. Sự hoạt động co bóp của tim mạch đều, tạo ra một số nhiệt lượng quanh qủa tim làm giảm mỡ bao quanh màng bao tim, còn nhiệt lượng trong máu làm mềm ống mạch, do lưu lượng máu tuần hoàn mạnh tạo sự ma sát quanh vách thành ống mạch lôi theo cholestérol bám ở vách thành ống mạch về gan thận để lọc thải ra khỏi máu, khi ống mạch giãn nở rộng khí huyết lưu thông dễ dàng làm hạ áp huyết. Nếu có miếng thịt u sau gáy dầy lên làm tắc khí huyết lưu thông trên đầu gây ra bệnh nhức đầu cao áp huyết thì khi cúi ngửa đầu sẽ làm giảm áp huyết và làm thông động mạch cổ gáy. Nếu có bệnh cao áp huyết thì cổ gáy vai cứng không thể vỗ hai tay ra sau được, vì thế phải hơi ưỡn ngửa lưng ra sau mới vỗ tay ra sau được dễ dàng .

4- Vỗ tay 4 nhịp chữa bệnh thoái hóa cột sống, tiêu hóa, bài tiết, sạn thận

Càng vỗ tay bốn nhịp đều đặn nhiều lần, cột xương cổ và xương sống được máu đến nuôi các khớp và đĩa đệm nở ra làm mạnh lưng thận tránh bị gù, lùn, cong lưng, còn các ống mạch sẽ giãn nở làm hạ áp huyết, máu lưu thông nhanh ma sát vào thành ống mạch tạo ra nhiệt lượng làm cơ thể ấm. Ở nhịp sau-trên, lưng đầu mặt ngửa lên nhìn trời, hai cánh tay đưa lên làm lồng ngực và tim được nâng lên và mở rộng buồng phổi sẽ thu được oxy vào tối đa, lưng ngửa ra làm xoang bụng giãn ra, tất cả bao tử, gan mật, lá mía, thận, ruột, bàng quang đều được kích thích giãn nở thu được oxy nhiều hơn làm tăng hồng cầu và bạch cầu.

Ở nhịp sau-trước lưng đầu mặt cúi xuống nhìn đất, tất cả lục phủ ngũ tạng bị ép lại đẩy thán khí ra ngoài, bao tử bị ép lại giống như đang nhồi ép thức ăn nhiều lần giúp cho sự chuyển hóa thức ăn nhanh và tiêu hóa được tốt, gan bị ép lại sẽ đẩy máu xấu và độc tố ra ngoài nhiều hơn, thận bị ép lại sẽ đẩy được cặn vôi ra ngoài sẽ ngừa được bệnh sạn thận, đường ruột bị nhồi ép đều sẽ không bị bệnh táo bón.

Video hướng dẫn vỗ tay 4 nhịp

1. Hướng dẫn cách vỗ tay

2. Hướng dẫn bài tập vỗ tay 4 nhịp

(khicongydao.com)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *