Đặc điểm sinh lý và bệnh lý của cột sống

Bài viết thuộc phần 2 trong Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam – Tài liệu bản gốc – Hà nội 9- 1991 -Tác giả:  Lương Y Nguyễn Tham Tán (1915-2000)

PHẦN 1: ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ VÀ BỆNH LÝ CỦA 4 ĐẶC TRƯNG

Phần giới thiệu về đặc điểm sinh lí và bệnh lí của 4 đặc trưng bao gồm:

I. CỘT SỐNG
II. LỚP CƠ
III. NHIỆT ĐỘ DA
IV. CẢM GIÁC

I. CỘT SỐNG

I.1 – Hình thái sinh lí cột sống bình thường

Cột sống có 33 đến 34 đốt sống hợp thành, chia ra:
– 7 đốt sống cổ
– 12 đốt sống lưng
– 5 đốt sống thắt lưng
– 5 đốt sống hông
– 4 hay 5 đốt xương cụt

Cột sống bình thường
Cột sống bình thường

Các đốt sống hông dung hợp lại thành một liên tảng, các đốt xương cụt cũng dung hợp lại thành một liên tảng. Giữa các đốt sống có đĩa đệm.

Trên cột sống, đốt sống cổ thứ nhất (C1) và đốt sống cổ thứ hai (C2) có hình thù hết sức đặc biệt

Đốt C1 nâng đỡ hộp sọ nên có hình một vòng tròn dẹt, thân đốt không rõ và lỗ đốt rất rộng, đảm bảo cho hộp sọ có thể quay chuyển được dễ dàng.Vì thế chúng ta gọi đốt C1 là đốt đội, người Châu Âu gọi là đốt Atlas (lấy tên Atlas là một đại lực sĩ trong điển tích thần thoại Hy-Lạp)

Đốt cổ thứ hai (C2) được gọi là đốt trục. Đốt C2 có hình khuyên tròn, phía trên và trước khuyên này lồi lên một mỏm gọi là mấu răng khế – giải phẫu học hiện đại gọi là mỏm răng (apophyse odontoide).

Đốt trục khớp với đốt đội giúp cho hộp sọ chuyển động, quay phải, quay trái được dễ dàng. Ngay cả khi ta gật đầu, cúi đầu ra phía trước cũng là nhờ trục của đốt C2 nghiêng về phía trước. Vì thế người Châu Âu đặt tên cho nó là Axis (trục).

Khi khám một cột sống, thầy thuốc cần chú ý đến đốt sống cổ thứ 6 và thứ 7 (C6 và C7). Ở mỏm ngang đốt sống C6 có một chỗ lồi cao, ta gọi là lồi trên, người Châu Âu gọi là củ Sát-xe-nhắc (tubercule de Chasaignas). Ở mỏm gai C7 cũng có một lồi cao rất rõ, trội hơn cả củ Sát-xe-nhắc, ta gọi là lồi dưới.

Các đốt sống cổ, nếu lấy đốt C1 và C7 làm mốc, thì đều cong về phía trước và đốt C4 là đốt cong sâu nhất.

Các đốt sống lưng, do cần tiếp xúc với các đầu sườn ra sau, nên mỗi đốt có tới 4 diện khớp để tiếp giáp với xương sườn. Các lỗ đốt đều tròn. Thân đốt khá dầy, mỏm gai rất dài và thõng sâu, do đó khi ta sờ thấy đuôi gai của đốt sống nào đó thì ngón tay của ta đã đặt ngang tầm với đốt dưới rồi.

Để tìm đốt sống, ta phải dựa vào các xương bả vai, xương sườn cụt và bờ xương hông, dùng các góc cạnh của các xương đó làm mốc để tìm.

Đốt D1 nằm dưới lồi dưới của C7

Đốt D3 nằm trên đường thẳng nối hai bờ trong trên của hai xương bả.

Đốt D7 nằm trên đường thẳng nối hai góc dưới của xương bả.
Từ đốt D1 trở xuống, cột sống lưng có xu thế cong về phía sau và

D4 là điểm thứ nhất nhô cao lên. Từ D8 trở đi, cột sống có hình cong lướt và D10 là điểm thứ hai nhô cao lên.

Các đốt sống thẳng lưng so với các đốt sống lưng khỏe hơn rất nhiều vì chúng phải chịu toàn bộ sức nặng của con người gia trọng lên nó. Các mỏm gai ngắn. rộng và ngang thân đốt sống to, không tiếp khớp với xương sườn nên các mỏm ngang dài và nhọn. Lỗ đốt hình tam giác.

Đốt thắt lưng thứ hai (L2) nằm trên đường thẳng nối hai đầu xương sườn cụt (nhìn phía ngoài mặt da, đó là nơi cơ lưng bắt đầu thắt lại.)

Đốt thắt lưng thứ tư (L4) nằm trên đường thẳng nối hai bờ trên xương hông.

Về mặt hình thái, từ L1 đến L5, cột sống có xu thế thẳng đều, nhưng cần chú ý:
– Ở nam giới, L4 và L5 đưa về phía trước.
– Ở nữ giới, L4 và L5 vẫn thẳng đều.
(và nếu không như vậy là hiện tượng bệnh)

Từ S1 đến S5, cột sống có xu hướng đưa về phía sau. Điểm cao nhất là S5.

Riêng xương cụt đưa về phía trước.

Giải phẫu học hiện đại chia cột sống ra làm 5 khu vực:
1/ Khu vực thứ nhất là khu cổ, kí hiệu bằng chữ C (do lấy mẫu kí tự C, bắt đầu của từ Cervicalis V., có nghĩa là đốt sống cổ), gồm 7 đốt.
2/ Khu vực thứ hai là khu lưng, kí hiệu bằng chữ D (Doralis), gồm 12 đốt.
3/ Khu vực thứ ba là khu thắt lưng, kí hiệu bằng chữ L (Lombalis), gồm 5 đốt
4/ Khu vực thứ tư là khu hông, kí hiệu bằng chữ S (Sacrilis), gồm 5 đốt
5/ Khu vực thứ năm là khu cụt, vẫn dùng nguyên từ coccyx.
Để ứng dụng các thủ thuật thích hợp, Phương Pháp Tác Động Cột Sống căn cứ vào đường cong sinh lí của cột sống để chia hệ cột sống thành 9 vùng khác nhau:

1/ Khu cổ trên, từ C1 đến C3 gồm 3 đốt
2/ Khu cổ dưới, từ C4 đến C7 gồm 4 đốt
3/ Khu lưng trên, từ D1 đến D3 gồm 3 đốt
4/ Khu dưới lưng trên, từ D4 đến D7 gồm 4 đốt
5/ Khu trên lưng dưới, từ D8 đến D9 gồm 2 đốt
6/ Khu dưới lưng dưới, từ D10 đến D12 gồm 3 đốt
7/ Khu thắt lưng, từ L1 đến L5 gồm 5 đốt
8/ Khu hông, từ S1 đến S5 gồm 5 đốt
9/ Khu cụt Coccyx

Rõ ràng giải phẫu học hiện đại phân chia cột sống theo hình thái học là chủ yếu, còn Phương Pháp Tác Động Cột Sống phân chia theo yêu cầu xử lí và tác động thích hợp cho từng khu vực. Điều đó không gây ra trở ngại gì phức tạp cho thủ thuật viên, vì tên gọi và kí hiệu chúng tôi vẫn giữ nguyên như y học hiện đại đang sử dụng.

Khi đứng trước người bệnh, người thầy thuốc theo Phương pháp Tác động Cột sống cũng cần quan sát hình thái cột sống của người bệnh như các trường hợp phái cột sống thế giới đã làm.
Những điểm khác biệt của phương pháp tác động cột sống trị bệnh so với các trường phái cột sống thế giới

Phương pháp tác động cột sống trị bệnh không chỉ quan sát hình thái của cột sống và còn tìm hiểu kĩ càng về sự biến đổi của từng đốt sống nhìn nghiêng và nhìn thẳng. Chẳng hạn khi đi sâu về hình thái, chúng tôi phân biệt đốt sống lồi và đốt sống lõm khi nhìn nghiêng, và phân biệt đốt sống lệch, lõm lệch, lồi lệch khi nhìn thẳng. Những biểu hiện này trên hình thái cột sống cộng với những phản ứng và phản xạ cụ thể về nhiệt độ da tại các khu vực, về hiện tượng co cơ, và cảm giác chủ quan của người bệnh mới hợp thành những cơ sở để thầy thuốc đoán định các khu vực bệnh lí cần xử lí.

Do đó việc quan sát những biến đổi về cấu trúc của cột sống là một khâu quan trọng trong quá trình chẩn và trị bệnh.
Nhưng cao hơn thế, người thầy thuốc trong trường phái cột sống Việt Nam không được bỏ qua và không được sao nhãng việc rèn luyện ngón tay để thăm khám trực tiếp trên cột sống người bệnh, để có thể đi sâu vào những chi tiết nhỏ bé nhất trong khu vực bệnh lí biểu hiện trên cột sống.

Cảm giác chủ quan trên đầu ngón tay của thầy thuốc phải được coi là một trong những công cụ quan trọng nhất trong kĩ thuật chẩn và trị bệnh theo phương pháp tác động cột sống.

I.2 Hiện tượng đốt sống không bình thường

Giải phẫu đốt sống
Giải phẫu đốt sống

Hiện tượng đốt sống không bình thường gồm 2 phần:
1 Hình thái đầu gai đốt xương sống không bình thường
2 Hình thái lớp cơ trên đầu gai sống không bình thường

A – Đặc điểm và hình thái đốt sống không bình thường

1. Hình thái đốt sống Lồi
Đốt sống Lồi ra phía sau bao gồm các hiện tượng:
a) (Đầu gai sống) lồi ra phía sau toàn phần.
b) Đầu gai sống lồi cân phần trên ra phía sau.
c) Đầu gai sống lồi cân phần dưới ra phía sau.
d) Nhiều đốt sống liền nhau lồi ra phía sau.

2. Hình thái đốt sống Lồi lệch
Đốt sống lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái gồm có:
a) Đầu gai sống lồi ra phía sau và lệch cân về một bên phải hoặc trái.
b) Đầu gai sống có một góc trên lồi và lệch về một bên phải hoặc trái.
c) Đầu gai sống có một góc dưới lồi và lệch về một bên phải hoặc trái.
d) Nhiều đôt sống liền nhau lồi và lệch về một bên phải hoặc trái.

Bệnh cột sống
Bệnh cột sống

3. Hình thái đốt sống Lệch
Đốt sống không lồi, không lõm mà lệch về một bên phải hoặc trái gồm có:
a) Đầu gai sống lệch cân về một bên phải hoặc trái.
b) Đầu gai sống lệch một góc trên về một bên phải hoặc trái.
c) Đầu gai sống lệch một góc dưới về một bên phải hoặc trái.
d) Nhiều đốt sống lệch về một bên phải hoặc trái.

4. Hình thái đốt sống Lõm lệch
Đầu gai sống lõm đưa về phía trước và lệch về một bên phải hoặc trái, gồm có:
a) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch cân về một bên phải hoặc trái.
b) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch một góc trên về bên phải hoặc trái.
c) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch một góc dưới về bên phải hoặc trái.
d) Nhiều đốt sống liền nhau lõm về phía trước và lệch về bên phải hay bên trái.

5. Hình thái đốt sống Lõm
Đầu gai sống lõm cân đưa về phía trước gồm có:
a) Đầu gai sống lõm cân toàn phần đưa về phía trước.
b) Đầu gai sống lõm cân , phần trên đưa về phía trước.
c) Đầu gai sống lõm cân, phần dưới đưa về phía trước.
d) Nhiều đốt sống lõm liền nhau đưa về phía trước.

B- HÌNH THÁI ĐẦU GAI SỐNG KHÔNG BÌNH THƯỜNG

1. Đầu gai sống của đốt lồi có hình thái to lớn hơn các đầu gai sống của các đốt bình thường.
2. Đầu gai sống của đốt lồi lệch có hình thái to và đưa lệch về một phía phải hoặc trái.
3. Đầu gai sống của đốt sống lệch có hình thái bình thường như những đốt khác nhưng lệch về một phía phải hoặc trái.
4. Đầu gai sống của đốt sống Lõm Lệch có hình thái nhỏ hơn các đầu gai của đốt sống bình thường nhưng lệch về một phía phải hoặc trái.
5. Đầu gai sống của đốt sống Lõm có hình thái nhỏ hơn các đầu gai của đốt sống bình thường nhưng đầu gai của các đốt còn có các dạng như sau:
a) Đầu gai sống sần sùi như những mẩu xương.
b) Đầu gai sống nhẵn nhụi như bình thường .
c) Đầu gai sống có lớp gai như răng cá ở hai bên phải hoặc trái của gai sống.
d) Đầu gai sống lõm xuống, ở đốt trên và đốt dưới của đốt sống lõm nổi lên thành hai gờ trên và dưới đè đốt sống lõm xuống.

C – ĐẶC TÍNH CỦA ĐỐT SỐNG BỆNH LÍ

1. Các đốt sống bệnh lí có thể phục hồi được qua thao tác điều trị.

Theo kinh nghiệm điều trị bằng Tác Động Cột Sống, các hình thái mất bình thường như Lồi, Lệch, Lõm… nếu rối loạn ít thì có thể phục hồi ngay qua một lần điều trị, nếu rối loạn lớn hơn thì có thể phục hồi dần dần trong quá trình điều trị. Như vậy có nghĩa là trong quá trình điều trị đốt sống bệnh lí có hình thái lồi sẽ bớt và hết Lồi, đốt sống bệnh lí có hình thái lệch sẽ bớt và hết Lệch, đốt sống bệnh lí có hình thái lõm sẽ bớt và hết Lõm.

Điều này chứng minh rằng thao tác trị bệnh khi tuân thủ các nguyên tắc định lực, định hướng, định lượng, và các phương thức, các thủ thuật của Phương Pháp Tác Động Cột Sống đã có hiệu lực tức khắc với hiện tượng bệnh lí, rằng thủ thuật có khả năng kích thích sự tự điều chỉnh của cơ thể chống lại bệnh tật bằng cách giải tỏa các ổ bệnh trên hệ cột sống và các điểm rối loạn liên quan tương ứng ở ngoại vi cột sống.

2. Khi đã gọi là đốt sống bệnh lí thì dù ở hình thái nào (Lồi, Lệch hay Lõm) bao giờ cũng có hiện tượng dính cứng ở một hay nhiều đốt sống.

Có trường hợp đốt sống chỉ bị dính phần trên hoặc góc trên với đốt trên, hoặc các trường hợp đốt sống chỉ bị dính phần dưới hoặc góc dưới với đốt dưới (hình thái đơn lệch), lại có trường hợp đốt sống bệnh lí bị dính cả phần trên với đốt sống trên và cả phần dưới với đốt sống dưới (hình thái lệch cân toàn phần). Dựa vào hình thái của đốt sống và đặc tính này, khi chẩn bệnh ta phải căn cứ vào cơ sở của các đốt sống bị dính cứng ấy để quy nạp chẩn đoán, đề ra phương hướng điều trị.

3. Chỉ khi thầy thuốc tuân thủ đúng các nguyên tắc về định lực, định hướng và định lượng, ứng dụng đúng các phương thức và thủ thuật để tác động tại trọng điểm thì các đốt sống bệnh lí ấy mới khắc phục được tình trạng dính cứng và phục hồi được nguyên trạng.

II. LỚP CƠ

II.1- Đặc điểm và hình thái lớp cơ trên các đốt sống không bình thường

Khi các đốt sống có hiện tượng không bình thường thì lớp cơ trên đầu gai sống cũng thay đổi hình thái khác thường tùy thuộc vào 5 hiện tượng của đốt sống không bình thường, ở lớp cơ đầu gai sống thể hiện dày cộm hay teo mỏng như sau:

Lớp cơ
Lớp cơ

1. Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lồi
a) Đầu gai sống lồi ra phía sau toàn phần thì lớp cơ trên đốt sống dó dày cộm hẳn lên, dầy hơn lớp cơ trên các đốt sống bình thường.
b) Đầu gai sống có hiện tượng lồi cân ở phần trên ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường
c) Đầu gai sống có hiện tượng lồi cân ở phần dưới ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường.
d) Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lồi ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường.

2. Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lồi Lệch
Đốt sống lồi ra phía sau và Lệch về một bên phải hoặc trái gồm có các hình thái:
a) Đầu gai sống lồi ra phía sau và Lệch cân về một bên thì lớp cơ bên Lồi Lệch đó dày cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường.
b) Đầu gai sống có một góc trên Lồi ra phía sau và Lệch về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở góc lồi của đốt sống dày cộm hơn các khu vực bình thường, và bên đối xứng của đốt sống lớp cơ bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường.
c) Đầu gai sống có một góc dưới bị lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở góc lồi của đốt sống dày cộm hơn các khu vực bình thường, và bên đối xứng của đốt sống lớp cơ bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường.
d) Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lồi ra phía sau và lệch về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở khu vực lồi lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, và lớp cơ bên đối xứng của các đốt sống lệch bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường.

3. Hình thái lớp cơ trên đốt sống lệch
Đốt sống lệch là đốt không lồi, không lõm, nhưng lệch về một bên phải hoặc trái, gồm có các hình thái:
a) Đầu gai sống lệch cân về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở bên lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường.
b) Đầu gai sống lệch một góc trên về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở trên góc lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của các khu vực bình thường.
c) Đầu gai sống lệch một góc dưới về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở trên góc lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của các khu vực bình thường.
d) Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lệch về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở khu vực lệch đó dầy cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của các đốt sống lệch bị khuyết mỏng hơn các khu vực bình thường.

4. Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lõm Lệch
a) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch cân về một bên phải hoặc trái thì lớp cơ ở đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở các khu vực bình thường, đặc biệt là phía bên lệch lớp cơ bị co cứng, và lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết lõm.
b) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch về một góc phần trên ở phía bên phải hoặc bên trái thì lớp cơ ở đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở các khu vực bình thường, ngoài ra lớp cơ ở phía góc lệch đó bị co cứng, và lớp cơ phía bên đối xứng của đốt sống bị lõm khuyết.
c) Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch về một góc phần dưới về bên phải hoặc bên trái thì lớp cơ ở đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở các khu vực bình thường, đặc biệt là phía góc lệch đó, lớp cơ bị co cứng, và lớp cơ phía bên đối xứng của đốt sống bị lõm khuyết.
d) Nhiều đốt sống liền nhau lõm về phía trước và lệch về bên phải hoặc bên trái thì lớp cơ ở đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở các khu vực bình thường, đặc biệt là lớp cơ bên lệch bị co cứng và lớp cơ phía bên đối xứng của các đốt sống lệch bị lõm khuyết.

5. Hình thái lớp cơ trên đốt sống lõm
Đầu gai sống lõm cân toàn phần đưa về phía trước gồm có các hình thái:
a) Đốt sống lõm cân về phía trước thì lớp cơ ở đầu đốt sống lõm bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường.
b) Đốt sống lõm phần trên đưa về phía trước thì lớp cơ ở chỗ lõm bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường.
c) Đốt sống lõm phần dưới đưa về phía trước thì lớp cơ ở chỗ lõm bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường.
d) Nhiều đốt sống lõm liền nhau đưa về phía trước thì lớp cơ cả một khu vực lõm đó đều bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường

6. Hình thái lớp cơ dầy cộm
Lớp cơ dầy cộm ở đốt sống không bình thường có các hình thái: Hình thái thư nhuận, hình thái cứng hơn thư nhuận, hình thái mềm hơn thư nhuận, như sau:
a) Hình thái cơ thư nhuận: Khi ấn, miết và vê trên lớp cơ co cộm ta cảm thấy lớp cơ có vẻ thư nhuận như những lớp cơ bình thường. Đặc biệt là lớp cơ này bị cộm. Còn có cộm ít là mỏng, và cộm nhiều là dầy. Hình thái này đẩy không chuyển động.
b) Hình thái lớp cơ cứng: Khi ấn, miết và vê trên lớp cơ co cộm ta cảm thấy lớp cơ có bị cứng hơn các lớp cơ thư nhuận. Đặc biệt là lớp cơ này còn có cộm ít (tức là mỏng) và cộm nhiều (tức là dầy). Hình thái này đẩy không chuyển động.
c) Hình thái lớp cơ mềm: Khi ấn, miết và vê trên lớp cơ co cộm ta cảm thấy lớp cơ có bị mềm và nát hơn các lớp cơ thư nhuận bình thường. Đặc biệt là lớp cơ này còn có cộm ít (tức là mỏng) và cộm nhiều (tức là dầy). Hình thái này đẩy không chuyển động.

7. Hình thái lớp cơ thành sợi.
Lớp cơ thành sợi ở trên đốt sống không bình thường có các hình thái: sợi tròn to (như dây thừng), sợi xơ nhỏ (thành lớp lăn tăn), sợi xơ rối (như cục tóc rối kết lại), sợi dẹt to thành dải dai chắc, sợi dẹt mỏng thành lớp lăn tăn.
a) Hình thái sợi tròn to: Khi miết ta cảm thấy chuyển động, trật trẹo, có hình dáng tròn thành sợi như sợi dây thừng cứng, ấn không tan và dai chắc.
b) Hình thái sợi xơ cứng: Khi miết ta cảm thấy những sợi xơ nhỏ này căng và cứng, ấn không tan và dai chắc, có trường hợp thể hiện lên thành đám (rộng, hẹp khác nhau) nhưng xếp theo một chiều như ta xếp nắm tăm. Miết trượt trên lớp này thất lăn tăn và chuyển động.
c) Hình thái sợi xơ rối: Khi miết và vê ở trên thể này ta cảm thấy lăn tăn rất nhỏ, hình dung như cục tóc rối kết lại thành khối và bám chắc ở đầu gai sống.
d) Hình thái sợi dẹt, dày to: Khi miết và vê ta cảm thấy như dải dẹt dai chắc, miết trượt cảm thấy chuyển động hình dung như một sợi dẹt dài ngắn khác nhau.
e) Hình thái sợi dẹt mỏng: Khi miết và vê ta cảm thấy nhiều lớp mỏng co cứng xếp lại chồng lên nhau không thành sợi dài. Khi miết trượt cảm thấy chuyển động và thành lớp lăn tăn co cứng. Những hình thái sợi dải nói trên đây có nhiều trường hợp khác nhau: sợi dài bắt chéo từ cột sống sang cơ lưng, từ cơ lưng nằm ngang đè lên đầu gai sống và nằm dọc ở cột sống dài hay ngắn, to hay nhỏ khác nhau.

8. Hình thái lớp cơ teo mỏng
Lớp cơ teo mỏng trên đốt sống không bình thường có các hình thái:
a) Hình thái teo mỏng: Khi miết và vê trên đốt sống không bình thường ta cảm thấy lớp cơ trên đầu gai sống bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường. Chú ý là khi đặt ngón tay trên đầu gai sống chỉ cảm thấy có một lớp da mỏng phủ trên đầu đầu gai sống mà không cảm thấy lớp cơ đệm.
b) Hình thái khuyết lõm: Khi miết và vê trên đốt sống không bình thường ta cảm thấy đầu gai sống như bị khuyết đi mà lớp cơ ở chỗ khuyết đó bị lõm sâu xuống khác thường.

II.2 Đặc tính của lớp cơ

1/ Có thể dùng thủ thuật trị bệnh ứng dụng theo các nguyên tắc, các phương thức của Phương pháp Tác động Cột sống để làm thay đổi hình thái lớp cơ.
Trong khi thao tác trị bệnh thầy thuốc cần tập trung theo dõi cảm giác trên đầu ngón tay của mình để có thể nhận thấy khi lớp cơ có thay đổi trong lúc thao tác, cụ thể là lớp cơ co cứng, dầy sẽ bớt cứng rồi mềm trở lại độ thư nhuận bình thường, lớp cơ nhược sẽ phục hồi dần dần, hết nhược rồi trở lại thư nhuận bình thường.
2/ Khi lớp cơ đã thư nhuận bình thường là ổ bệnh đã được giải toả, thao tác đến ngưỡng phải dừng ngay
Sở dĩ thầy thuốc cần theo dõi sự biến đổi của lớp cơ trong khi thao tác vì khi đã có hiện tượng báo đến ngưỡng của định lượng mà vẫn cứ tiếp tục thao tác thì lớp cơ bị tác động quá ngưỡng tiếp thu của cơ thể sẽ có phản vệ co lại, hiệu quả vừa đạt được sẽ bị xoá hoàn toàn, lớp cơ bị tác động quá nhiều có thể bị xưng đau, người bệnh lại có cảm giác khó chịu như ban đầu.
3/ Lớp cơ co căng cứng như mặt trống. Những trường hợp này chỉ có thể làm lớp cơ thay đổi bằng cách đắp bột cua đồng phối hợp với thủ thuật mới phục hồi được sự thư nhuận của lớp cơ.
4/ Lớp cơ co dầy gây cảm giác rất đau nhưng khả năng phục hồi rất nhanh. Có khi thầy thuốc dùng thủ thuật thao tác chỉ một lần điều trị tại trọng điểm đã hết co.
5/ Lớp cơ co mỏng phải điều trị lâu dài mới hồi phục được. Những lớp cơ này tương ứng với những bệnh mạn tính, với những ổ bệnh đã có tổn thương thực tế.
6/ Lớp cơ mềm dày tương ứng với các dạng nhiễm trùng lao vì vậy phải kết hợp dùng thuốc chống lao trong quá trình điều trị mới giải toả được.
7/ Lớp cơ mềm mỏng không gặp trong hình thái bệnh lí mà chính là hậu quả biến đổi đột ngột của sự tác động quá lực, nếu không điều chỉnh lại sẽ gây ra một sự rối loạn mới. Vì vậy gặp trường hợp này thầy thuốc phải tập tức tác động ngay bên đối xứng của trọng điểm để cho lớp cơ mềm mỏng đó được phục hồi lại ngay.
8/ Lớp sơ sợi chỉ gặp trong lớp cơ sâu của các đốt sống bị khuyết Lõm, ít gặp trong các đốt sống Lệch, và không gặp trong các đốt sống Lồi. Hình thái này chỉ thay đổi khi thầy thuốc đã giải toả được các đốt sống Lồi hoặc Lồi Lệch ở phía trên của các đốt sống Lõm bệnh lí ấy.
9/ Lớp cơ teo nhược chỉ phục hồi khi đã giải toả được những lớp cơ co cộm ở phía trên của chỗ cơ teo nhược.

=====================================
Nội dung tham khảo liên quan:
Clip xương cột sống
https://www.youtube.com/watch?v=wDyOnOVKrfc

Clip giải phẫu chi trên
https://www.youtube.com/watch?v=BnnVTimTYuc

Clip giải phẫu chi dưới:
https://www.youtube.com/watch?v=uVH5X1Gg8Wg

ThS – LY Nguyễn Đình Thảo (Thảo Sen Nam)
sennam.thao@gmail.com Điện thoại: 0918 260 196
FB: Tác động cột sống Việt Nam

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *