Đan sâm – Vị thuốc quý cho bệnh nhân suy thận, bổ máu, tim mạch

Đan sâm chữa suy thận

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như y học cổ truyền đã chứng minh đan sâm có tác dụng rất tốt trong việc điều trị các bệnh về thận. Đan sâm (Salvia miltiorrhiza) là loại cây thảo sống lâu năm, cao từ 30-80 cm, thân hình trụ có 4 cạnh và lông mềm, lá mọc đối, cuống lá dài.
Đan sâm là một vị thuốc quý trong y học cổ truyền, đặc biệt nó được nghiên cứu và ứng dụng trong điều trị suy thận. Năm 1993, các nhà nghiên cứu tại Hàng Châu (Trung Quốc) đã báo cáo tác dụng của đan sâm trên bệnh nhân suy thận đang được thẩm phân phúc mạc. Kết quả cho thấy, đan sâm có thể giúp làm tăng đáng kể mức thanh thải và siêu lọc creatinine, urê, axit uric. Cơ thể tăng cường đào thải các chất cặn bã có vai trò rất quan trọng vì khi bị suy thận, khả năng loại bỏ các chất này bị suy giảm.

Đặc biệt, đan sâm đã được sử dụng rộng rãi tại Trung Quốc hơn 30 năm qua để hỗ trợ điều trị suy thận mạn. Thành phần Lithospermate B trong đan sâm có tác dụng giúp tăng cường chức năng thận, hỗ trợ thận đào thải các chất độc ứ đọng trong cơ thể như: urê, creatinin, axit uric; giúp bảo vệ thận, tăng cường chức năng thận, hỗ trợ điều trị suy thận và không gây tác dụng phụ.

Đan sâm bổ huyết, chữa thiếu máu, huyết khối, hoạt huyết

Thiếu máu cơ tim là tình trạng bệnh lý động mạch vành thường gặp, đặc biệt ở những người có tuổi và cao tuổi. Biểu hiện trên lâm sàng bằng cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim.

Y học cổ truyền dùng đan sâm làm trà dùng với thuốc điều trị đặc hiệu trong giai đoạn bệnh tiến triển hoặc dùng đơn thuần có tính chất dự phòng khi bệnh ổn định. Phụ nữ mang thai không được dùng.

Đan sâm hoạt huyết: Đan sâm 9 – 12g tán vụn hãm cùng 3g trà xanh với nước sôi trong bình kín, sau 10 phút thì dùng được, uống trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết hoá ứ, thanh tâm trừ đàm.

Đan sâm ẩm – trà dược quý

Trong y học cổ truyền ai cũng biết đến Tứ vật thang, một bài thuốc rất đơn giản chỉ gồm 4 vị: thục địa, đương quy, bạch thược và xuyên khung, nhưng lại là một phương thang “bổ huyết điều huyết” kinh điển hết sức cơ bản và trọng yếu, được các thầy thuốc y học cổ truyền sử dụng thường xuyên trong trị bệnh.

Nhưng cũng từ xa xưa giới chuyên ngành đông y, đông dược đã lưu truyền câu ngạn ngữ: “Nhất vị đan sâm ẩm, công đồng Tứ vật thang” (một vị đan sâm cũng có tác dụng ngang với cả bài thuốc Tứ vật).

Theo y thư cổ, đan sâm vị đắng tính hơi lạnh, vào được hai kinh tâm và can, có công dụng hoạt huyết khứ ứ, tiêu thũng chỉ thống, lương huyết dưỡng huyết và an thần; thường được dùng để chữa các chứng bệnh của đông y do huyết ứ gây nên.

Trên cơ sở nghiên cứu dược lý này, người ta đã dùng đan sâm và các chế phẩm của nó để điều trị khá nhiều bệnh theo y học hiện đại như viêm gan, viêm thận cấp và mạn tính, hen phế quản, viêm thần kinh ngoại vi do đái đường, đau dây thần kinh tam thoa, đau đầu do mạch máu, ù tai do nguyên nhân thần kinh, mụn nhọt… và đặc biệt là các bệnh lý tim mạch như thiểu năng tuần hoàn não, tai biến mạch não, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, thiểu năng mạch vành, xuất huyết võng mạc, viêm động tĩnh mạch…

Đan sâm ẩm, một loại trà dược được ghi trong sách Trung Quốc dược thiện học, có lẽ đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu này. Cách chế và cách dùng cụ thể như sau:

Đan sâm 6 g rửa sạch, thái mỏng rồi hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 – 20 phút có thể dùng được, uống thay trà trong một ngày.
Khi uống, nếu bị đi lỏng thì có thể sao qua đan sâm trước khi dùng hoặc cho thêm vào ấm trà vài lát gừng tươi. Riêng đối với bệnh lý động mạch vành tim, để nâng cao hiệu quả trị liệu có thể phối hợp đan sâm với một số vị thuốc hoạt huyết khác như tam thất, hồng hoa… Ví dụ: đan sâm 9g, trà búp 3g, hai thứ tán vụn hãm uống thay trà trong ngày.

Vương Văn Liêu tổng hợp từ các tài liệu

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *