Đo huyết áp để chữa bệnh thuộc Khí-Huyết Hư-Thực, Hàn-Nhiệt

Đo Áp Huyết Sẽ Biết Được Cách Chữa Đúng Vào Những Bệnh Thuộc Khí-Huyết Hư-Thực, Hàn-Nhiệt

Tiêu chuẩn áp huyết theo KCYĐ :

90-95 (1 tuổi đến 5 tuổi) mạch nhanh không chính xác.
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.(6 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi-17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Thí dụ lấy tiêu chuẩn áp huyết ở lứa tuổi trên 60 :

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

  • Số thứ nhất 130-140 là tâm thu, chỉ áp lực Khí đẩy huyết, thuộc Khí.
  • Số thứ hai 80-90 là tâm trương chỉ lượng máu qua van tim, máu qua ít van tim mở hẹp lại, lượng máu qua nhiều van tim mở to ra, nên số thứ hai biết được tình trạng của Huyết.
  • Số thứ ba chỉ nhịp tim chậm thuộc Hàn, nhịp tim nhanh thuộc Nhiệt.

A-Những bệnh thuộc Khí theo đông y có những số đo áp huyết như sau ở tuổi trên 60 :

Khí Thực : trên 150/80-90mmHg nhịp tim 70-80

Khí Hư : Dưới 120/80-90mmHg nhịp tim 70-80

Khí Hàn : 130-140/80-90mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Nhiệt : 130-140/80-90mmHg nhịp tim trên 90

Khí Thực Hàn : Trên 150/80-90mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Thưc Nhiệt : Trên 150/80-90, nhịp tim trên 90

Khí Hư Hàn : Dưới 120/80-90mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Hư Nhiệt : Dưới 120/80-90mmHg nhịp tim trên 90

B-Những bệnh thuộc Huyết theo đông y có những số đo áp huyết như sau ở tuổi trên 60 :

Huyết Thực : 130-140/ trên 90mmHg nhịp tim 70-80

Huyết Hư : 130-140/ dưới 70mmHg, nhịp tim 70-80

Huyết Hàn, Huyết Nhiệt : Không có trường hợp này mà lệ thuộc vào Khí Hư hay Thực

C-Những bệnh thuộc vừa Khí vừa Huyết theo đông y có những số đo áp huyết như sau ở tuổi trên 60 :

Khí và Huyết Thưc : Trên 150/trên 90mmHg nhịp tim 70-80

Khí và Huyết Hư : Dưới 120/dưới 70mmHg nhịp tim 70-80

Khí và Huyết Thực Nhiệt : Trên 150/trên 90mmHg nhịp tim trên 90

Khí và Huyết Thực Hàn : Trên 150/trên 90mmHg nhịp tim dưới 65

Khí và Huyết Hư Nhiệt : Dưới 120/dưới 70mmHg nhịp tim trên 90

Khí và Huyết Hư Hàn : Dưới 120/dưới 70mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Thực Huyết Hư Nhiệt : Trên 150/dưới 70mmHg nhịp tim trên 90

Khí Thực Huyết Hư Hàn : Trên 150/dưới 70mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Hư Huyết Thực Nhiệt : Dưới 120/trên 90mmHg nhịp tim trên 90

Khí Hư Huyết Thực Hàn : Dưới 120/trên 90mmHg nhịp tim dưới 65

Tất cả những trường hợp áp huyết như trên, đối với tây y không phải là bệnh, nên không thể biết cách chữa, nhưng đông y bắt mạch chính xác và kiểm chứng lại bằng máy đo áp huyết sẽ có những con số cụ thể, từ đó mới có cách chữ đúng theo phương pháp Đối Chứng Trị Liệu Lâm Sàng, bằng thuốc hay ăn uống bằng Tinh điều chỉnh tăng giảm Huyết, cách tập Khí để điều chỉnh tăng giảm Khí, điều chỉnh Thần ở Đan Điền Thần tăng nhiệt hay Đan Điền Tinh ở huyệt Khí Hải giảm nhiệt.

D -Trường hợp đặc biệt :

Đối với tây y : 

Sốt cao

Khi nhịp tim cao hơn 120 mà cơ thể tăng nhiệt là sốt cao, có hai loại : máu nhiễm trùng và máu không nhiễm trùng, nhưng không biết Khí hay Huyết Hư hay Thực để có cách chữa khác nhau như đông y.

Còn trường hợp nhịp tim nhanh, nhưng đo nhiệt kế không có sốt, tây y thử máu không có nhiễm trùng thì bó tay, trường hợp này đông y gọi là nội nhiệt ngoại hàn.

Riêng trường hợp hư nhiệt giả hàn, hư hàn giả nhiệt thuộc bệnh nan y, đông y gọi là thương hàn, nhưng vẫn không phát hiện ra được dấu hiệu sắp bị bệnh ung thư thực chứng và hư chứng.

Ung thư

Ung thư theo kinh nghiệm bằng máy đo áp huyết so với tiêu chuẩn tuổi là thiếu máu trầm trọng trong suốt thời gian dài 30-40 năm khi ở tuổi người lớn mà áp huyết chỉ bằng trẻ em còn trong bụng mẹ, áp huyết tâm thu thuộc khí dưới 80 :

Khi cơ thể thiếu khí (dưới 80) sẽ không đủ khí lực đẩy máu tuần hoàn theo đông y, nhưng theo tây y, không đủ oxy để duy trì công thức máu Fe2O3 làm mất máu chỉ còn lại chất sắt Fe2, nhưng không thể bồi bổ máu cho cơ thể thêm chất sắt sẽ dư thừa. Ngược lại theo Khí Công cơ thể dư chất sắt chỉ cần tập khí công tăng thêm oxy cho máu thì tế bào máu được phục hồi, nhưng nếu cơ thể thiếu lượng máu, thì tập khí công thì khí dư huyết vẫn thiếu, nên vẫn cần bồi bổ huyết bằng ăn uống hay chích B12 và tập bài Nạp Khí Trung Tiêu, Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực làm tăng khí huyết, tăng áp huyết và tăng hồng cầu.

Những bệnh ung thư thường có áp huyết như :

80/70-80mmHg nhịp tim 60 người lạnh chân tay lạnh, thuộc chứng hư mãn tính

80/70-80mmHg nhịp tim 120 trong người nóng (hư nhiệt) chân lạnh, bàn tay nóng, mặc áo ấm đắp chăn ấm.

Tạng phủ nào trong cơ thể thiếu máu đến nuôi dưỡng, tế bào nơi đó sẽ bị suy yếu dần trở thành tế bào ung thư, nên tây y xác nhận ung thư không có vi trùng, nhưng không tìm được nguyên nhân gây ra bệnh ung thư vì không biết nguyên nhân do khí huyết bằng cách kiểm chứng bằng máy đo áp huyết.

Khi không có tạng phủ nào có dấu hiệu tế bào ung thư, thì ung thư đó thuộc về ung thư máu.

Cách chữa đúng được kiểm chứng theo dõi áp huyết tăng dần, đúng và đủ theo tiêu chuẩn tuổi. Cách chữa sai khi áp huyết giảm dần xuống 70mmHg thì bệnh nhân chết.

Để phòng ngừa ung thư, những ai có áp huyết dưới 100 cần chích B12 và ăn uống những thức ăn bổ máu, tập luyện khí công.

Theo đông y ung thư không có di căn, khí huyết hư không truyền bệnh theo vòng tương khác, mà chỉ truyền theo vòng tương sinh mẹ con.

Nơi gọi là di căn là nơi tế bào đã thiếu máu sẵn, nhưng chỉ có nơi có nhiều tế bào thiếu máu được phát hiện ra trước, rồi nơi khác theo thời gian cơ thể thiếu máu tiếp sẽ bị phát hiện ra sau, vì theo tây y khi chữa ung thư gọi là khỏi bệnh thì áp huyết vẫn ở mức thiếu dưới tiêu chuẩn tuổi.

Những người có bệnh cao áp huyết mà uống thuốc hạ áp huyết xuống dưới tiêu chuẩn tuổi, theo cách chẩn mạch của đông y cũng sẽ có biến chứng thành bệnh khác.

Thân

doducngoc

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *