Huyệt là gì?

Khả năng chữa bệnh kỳ diệu của huyệt – Phần 1

1-Huyệt là gì ?

Huyệt là một điểm nhạy cảm nhất so với chỗ khác, có cảm giác tê, tức đau lan truyền khi bấm vào. Huyệt có thể nằm trên gân gọI là cân huyệt, nằm trên mạch máu gọi là huyết huyệt, nằm trên cơ nhục gọi là cơ huyệt, nằm trên xương gọi là cốt huyệt, nằm giữa hai khe xương gọi là khích huyệt, nơi đau tại chỗ có thể nằm trên đường kinh hay ngoài đường kinh gọi là a thị huyệt (thị là tại chỗ, khi bấm vào đó bị đau kêu lên thành tiếng a ).

2-Lịch sử thành hình khoa châm cứu và huyệt:

Huyệt đã được biết đến từ thời kỳ con người còn ăn lông ở lỗ, đó là những điểm đau a-thị-huyệt, và con người cũng biết sử dụng một cục đá nhỏ có đầu nhọn để tự ấn vào điểm đau, họ cảm thấy dễ chịu, bớt đau, người ta gọi là phương pháp biếm châm , dần dần theo thời gian, con người có kinh nghiệm tìm ra nhiều điểm đau có liên quan đến bệnh, và cũng đã biết chế ra kim châm thô sơ thay cho cục đá.

Cũng tùy theo những điểm đau, họ cảm thấy có lúc dùng kim châm cũng không hết đau, mà dùng tay ấn vào huyệt cho ấm lên thì cái đau biến mất, nên đã thay thế bằng cách hơ nóng nơi đau, kể từ đó đã có những người chuyên môn biết châm huyệt và cứu huyệt để chữa các bệnh tê đau nhức mỏi, người đời xưa gọi là thầy châm cứu.
Về sau các thầy châm cứu cổ đại đã nghiên cứu tìm ra các điểm đau có tính dẫn truyền nên bổ sung thành những đường kinh đơn giản chưa có mối quan hệ giữa kinh này với kinh khác nên chưa biết có sự tương quan ngũ hành.
Qua kinh nghiệm của nhiều thời đại, các thầy châm cứu chỉ coi huyệt như là một vị thuốc đơn chất ( giống như một nguyên tố hóa học ), đau đâu chữa đó, nên đã gặp những trở ngại, càng châm nhiều huyệt lại càng không khỏi, họ nghi ngờ có sự liên quan biến dịch xung khắc ngũ hành của huyệt ,họ mới xin phép nhà vua cho mổ xẻ tử tội để học hỏi rút tỉa kinh nghiệm lý luận ,rồi sắp xếp lại khả năng chuyên trị của từng huyệt, huyệt nào hữu hiệu hơn huyệt nào để thành một khoa châm cứu và truyền kinh nghiệm cho đời sau, khoa châm cứu dần dần thành hình từ thời đại Tần-Hán với quyển NộI Kinh ( Tố vấn- Linh xu khoảng năm -246, -25 ).

Qúa trình hình thành quyển Nội Kinh là do góp nhặt kinh nghiệm xương máu của các tử tội qua nhiều thế hệ, nhiều thời đại của mấy ngàn năm trước mới xong phần châm cứu căn bản có hệ thống âm dương ngũ hành và kinh mạch, lúc đó sự biến hóa kỳ diệu của huyệt không phải là một đơn chất như một nguyên tố hóa học mà là một thành phần trong một hợp chất tạo ra một công dụng khác trong chữa bệnh.

Như vậy đông y châm cứu đã qua thời kỳ đơn huyệt với những thí nghiệm bằng mổ xẻ do các thái y được phép nhà vua cho sử dụng tử tội để nghiên cứu, rút kinh nghiệm lập thành hệ thống kinh mạch huyệt đạo gồm 365 huyệt, sắp xếp theo kinh mạch, âm dương, ngũ hành, theo tạng phủ, rồi đem ứng dụng đều thấy có kết qủa giống nhau trong khoảng thời gian dài cả ngàn năm, lúc đó các thái y đờI sau thấy không cần thiết lạm dụng tử tội để thí nghiệm những cái đã biết do đời trước để lại, vì vậy ngày nay tây y đã sai lầm cho rằng kinh nghiệm đông y là trừu tượng mơ hồ, không biết mổ xẻ như tây y nên không đáng tin cậy. Thực ra các giáo sư bác sĩ ở các đại học tây phương sang Trung quốc học châm cứu đã từng thắc mắc làm sao đông y biết được kinh mạch và huyệt đạo nếu đông y chưa từng biết đến mổ xẻ cơ thể con người. Chúng ta nghe chính họ đã viết như sau: Dans la Chine ancienne, en effet, une des sentences communément appliqués à certains crimes était la torture qui consistait souvent en une vivisection. Le criminel était littéralement coupé en pièces, vivant, et plus longtemps le bourreau pouvait garder son client vivant sous un tel traitement, plus grande était son habileté professionnelle. à cette époque, les médecins, même s’ils n’étaient pas autorisés à toucher le criminel, pouvaient cependant assister à la séance de tortures. Il n’est donc pas étonnant que ces médecins, en observant l’interaction des organes dans un corps vivant, aient développé la théorie de l’existence d’un flux d’énergie ciculant dans l’organisme, alors que ce flux d’énergie échappait aux médecins occidentaux, traditionnellement habitués à disséquer des cadavres dans lesquels l’énergie a par définition cessé de circuler.. ( Manupuncture de Massimo N. di Villadorata, page 11 ).

Khoa châm cứu thịnh hành từ đời Hậu-Hán (25-220 sau Tây lịch )và ông tổ châm cứu thời đó là thần y Tần Việt Nhân hiệu Biển Thước đã có công bổ sung 41 vấn đề thắc mắc khó hiểu của môn trị bệnh bằng châm cứu gọi là Nạn kinh . Sau tổ châm cứu Biển Thước 1000 năm ,ngành đông y cũng phát triển mạnh về cách chữa bệnh bằng cây cỏ dựa trên quyển Bản Thảo Thần Nông được bổ sung thêm bằng kinh nghiệm của Ông tổ Hoa Đà thời Tam Quốc. Cả hai phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu và bằng dược thảo đều thống nhất quy luật biến hóa của Âm-Dương ngũ hành. Nên mỗi vị thuốc hoặc mỗi huyệt là một đơn chất có công dụng khác hoàn toàn với công dụng của hợp chất khi chúng được phối hợp lại, giống như tây y ,đơn chất Chlor, và đơn chất Natri là hai độc tố khi chưa chế biến, nhưng khi chế biến thành một hợp chất sẽ trở thành muối ăn không có độc. Cho nên nhiều đơn chất có thể kết hợp thành nhiều hợp chất khác nhau để có được những công dụng chữa bệnh như ý muốn sẽ tùy vào khả năng hiểu biết và tiến bộ của ngành tây y.

3-Tính chất của huyệt :


Khi tác động lên huyệt, truyền theo hệ thần kinh nó sẽ kích thích hệ nội tiết và miễn nhiễm của cơ thể để cho một phản ứng hóa học tạo thành một vị thuốc . Như vậy mỗi huyệt coi như là một thành phần hóa học tạo ra thuốc. Nhưng hiệu năng của huyệt biến đổi đa dạng có nhiều hay ít công dụng còn tùy vào kiến thức của người biết cách lý luận để phối hợp huyệt thành một bài thuốc. Cho nên cách bào chế thuốc bằng huyệt theo kinh nghiệm của các thầy thuốc châm cứu tây y và đông có nhiều khác biệt rất xa.

a-Huyệt theo kinh nghiệm châm cứu của các thầy thuốc tây y :

Các bác sĩ châm cứu tây y phải mất một thời gian dài gần 100 năm mới chỉ tìm ra được khả năng đơn chất của từng huyệt, đã phải qua nhiều thử nghiệm, kiểm chứng và thống kê để biết được tính chất các huyệt rõ ràng như đã biết tính chất của các nguyên tố hóa học hay tính chất và công dụng của từng loại vitamine.

Thí dụ như huyệt Túc Tam Lý được ông tổ châm cứu Tây phương tên Soulié de Morant,( một bác sĩ Pháp, cựu đại sứ Pháp tại Trung Quốc đã học được môn châm cứu của đông phương đem về truyền dạy lại cho các bác sĩ tây phương) đã thử nghiệm tính chất huyệt này có điện thế rất mạnh để chữa bệnh thể chất mệt mỏi, tinh thần suy nhược lo lắng. Trường Đại học Quân y 4 Trung Quốc sau khi thử nghiệm kết luận châm huyệt này thấy bạch cầu đa nhân trung tính tăng nhiều nhất. Các trường Đại học Y khoa khắp thế giới có nghiên cứu tính năng của huyệt châm cứu cho biết các kết qủa thử nghiệm của huyệt Túc tam lý như sau : Làm co bóp nhu động ruột và bao tử mạnh và nhanh hơn, tiết dịch vị nhiều hơn, làm tăng bạch cầu, tăng cường tuyến hoạt động thượng thận, tăng trọng lượng làm dầy vỏ tuyến thượng thận, làm cho adrénaline tiết ra nhiều hơn, làm thay đổi điện tâm đồ, châm vaccin thương hàn vào huyệt thấy hiệu qủa làm tan vi khuẩn nhanh hơn..Tất cả những khám phá đó cũng chỉ là đơn chất do huyệt tạo ra. Các huyệt khác cũng đang tìm tòi thử nghiệm theo tiêu chuẩn khoa học tương tự như vậy, tây y đang tìm kiếm khả năng của huyệt , mỗi huyệt tạo ra được vị thuốc gì.

Nhưng phương pháp điều chế thành một hợp chất cần thiết phù hợp với bệnh là những huyệt có tính chất đối chứng trị liệu lâm sàng sau khi khám âm dương hư thực hàn nhiệt mới biết cách lập lại quân bình ,thì chưa có kinh nghiệm, vẫn còn phải mất nhiều thời gian nữa mới hệ thống hóa được các huyệt , e rằng phải đi lại con đường bốn, năm ngàn năm trước mà y học đông phương đã trải qua.

Về lãnh vực Tây y dược, ngày nay chúng ta dựa vào bảng nguyên tố hóa học làm kim chỉ nam trong mọI nghiên cứu tìm tòi, chế biến hóa dược, mặc dù đã tiến bộ rất xa, nhưng chưa biết hết được khả năng tính dược còn nhiều bí mật ,để có thể sản xuất ra các loại thuốc chữa bệnh như ý muốn, mặc dù đã biết xếp loại nào là gốc acide, loại nào gốc base, gốc carbure.. Rồi còn phải nghiên cứu biết cách phối hợp acide nào đi vớI gốc base nào cho ra loại muối nào, song song vớí việc khám bệnh xem cơ thể cần loại muối nào mớI phù hợp. Cho nên ở thị trường tây dược có loại thuốc thuộc acide, có loại thuốc thuộc base, có loại thuốc thuộc muối cũng nhiều vô kể mang tên thương mại khác nhau để đem điều trị bệnh cho bệnh nhân,sau năm mười năm mới rút tỉa ra được kinh nghiệm lâm sàng là lợi hay hại của thuốc, nếu lợi không sao, còn nếu hại gây biến chứng thành bệnh khác thì đã qúa muộn.

b-Về lãnh vực nghiên cứu huyệt thay thuốc :

Tìm huyệt để điều chế phối hợp sao cho đúng phân lượng thuốc mà cơ thể cần, điều này ngành châm cứu tây y cũng vẫn còn đang nghiên cứu, nhưng mới chỉ nghiên cứu được công dụng của đơn huyệt. Vì thế chúng ta không lấy làm lạ trên những sách học châm cứu của tây phương, công dụng chữa bệnh của một huyệt rất ít, chỉ chữa được một hai bệnh theo lý thuyết, nhưng áp dụng kém hiệu qủa dẫn đến những hoài nghi thắc mắc vì có nhiều huyệt ghi chữa được cùng một bệnh giống nhau, nhưng thực tế lâm sàng có khác biệt để chọn huyệt, thí dụ có 5 huyệt ghi chữa nhức đầu, các thầy thuốc tây y không biết phải chọn xem huyệt nào hay nhất, nếu dùng sai nó sẽ phản tác dụng, nếu có sinh viên nào thắc mắc hỏi thầy tại sao lại có tình trạng như vậy, thầy cũng chưa trả lời được, vì cách chọn huyệt lệ thuộc vào đối chứng lâm sàng, thí dụ như đau đầu do lạnh dùng huyệt 1, do cảm nắng dùng huyệt 2, do kinh nguyệt dùng huyệt 3, do áp huyết dùng huyệt 4, do suy nghĩ nhiều dùng huyệt 5…..Đối với đông y, trên lý thuyết người ta đã tìm ra tính chất của huyệt theo đơn chất nên mới áp dụng kiểu chọn một huyệt thích hợp cho một trong hàng trăm loại nhức đầu khác nhau.

BởI vì thực ra đông y không còn xem huyệt là một đơn chất, mà huyệt là một đơn vị trong một thế trận, khi nó làm quân, khi nó làm thần, khi nó làm tá, khi nó làm sứ, theo kỹ thuật phối hợp thuốc của ngành đông dược, mỗi lúc mỗi biến hóa khác nhau theo một quy luật khí hóa ngũ hành. Điều mà ngành châm cứu tây y tránh né vì nó trừu tượng không thể hiểu để giảng giải và áp dụng.

c-Nghiên cứu và phân tích huyệt qua một thí dụ :

Chúng ta lấy một thí dụ cách chữa chứng bệnh áp huyết, phân tích theo cách chữa bằng huyệt của tây y và đông y cũng đã có qúa nhiều cách biệt về kinh nghiệm điều trị.

Theo châm cứu tây y :
Nếu có hai đơn chất, huyệt A thuộc nhóm acide, huyệt B nhóm base cũng chữa được bệnh trên, thầy thuốc phải chọn huyệt nào ? Có người chọn A, có người chọn B, có người chọn cả hai AB thuộc dạng muối .

Chúng ta sẽ phân tích kết qủa như sau :
Nếu áp huyết do thiếu acide thì phải bổ huyệt A để tăng acide.
Nếu áp huyết do dư acide thì phải tả huyệt A để giảm acide.
Nếu áp huyết do thiếu base thì phải bổ huyệt B để tăng base.
Nếu áp huyết do dư base thì phải tả huyệt B để giảm base.
Nếu không hiểu chứng bệnh áp huyết thuộc loại nào, mà cứ nghĩ rằng huyệt A cũng chữa áp huyết, huyệt B cũng chữa áp huyết, nên dùng cả hai huyệt, lại trở thành loại thuốc muối AB không hợp với bệnh sẽ gây nguy hiểm cho bệnh nhân. Khi thực hành châm AB, phải châm bổ, hoặc châm tả cũng lại là vấn đề không biết, hậu qủa sẽ ra sao?
Còn như áp huyết nguyên nhân do muối, cần phải tìm loại muối nào thích hợp, AB, hay CD, hay EF..liều lượng bao nhiêu, phải bổ sung thêm bao nhiêu lại là vấn đề nan giải khác.
Nếu áp huyết do dư muối, phải tìm ra loại muối nào dư, chọn những đơn huyệt nào phối thành một hợp chất để tiêu hủy chất muối gây nên bệnh áp huyết.

Kết luận : Qua thí dụ trên ,châm cứu Tây y chưa tìm ra gốc bệnh của chứng áp huyết theo đúng tiêu chuẩn sử dụng huyệt của đông y thì không thể nào biết cách chữa cho đúng .Tương tự đối với các bệnh khác cũng nan giải ,ít thành công.

-Theo kinh nghiệm châm cứu của thầy thuốc đông y :
Nếu cho bệnh nhân đi thử máu, phân, nước tiểu, virus, vi trùng, điện tâm đồ, huyết mạch theo tây y, cũng có thể phân loại chứng áp huyết thuộc acide hay base, hay muối, dư hay thiếu loại acide nào, base nào, muối nào..( ở Tây phương ,nếu các bác sĩ châm cứu chưa được quyền gửi bệnh nhân đi xét nghiệm là một thiệt thòi trong vấn đề nghiên cứu sự tiến bộ của khoa châm cứu theo tiêu chuẩn tây y ).

Theo đông y, muốn phối hợp huyệt để chữa một bệnh, trước hết đông y phải biết phân tích nguyên nhân bệnh một cách rõ ràng theo tiêu chuẩn bát cương, là bệnh thuộc âm hay dương, ( khí hay huyết ), hàn hay nhiệt, hư hay thực, biểu hay lý. Khám bệnh theo bát cương ,các bác sĩ châm cứu tây y cảm thấy nó trừu tượng, phiền phức, khó chẩn đoán, không có kinh nghiệm, đa số đều bỏ qua việc truy tìm ngưyên nhân theo bát cương, chỉ chữa theo chứng ngọn mà bệnh nhân kể, nên không thể nào hiểu được sự biến hóa kỳ diệu của quy luật âm dương ngũ hành.

Ngay cả các thầy thuốc đông y kiến thức hiểu biết như nhau, bằng cấp như nhau, trình độ như nhau, nhưng kinh nghiệm lâm sàng để khám và tìm cách phối hợp huyệt vẫn thấy rõ sự hơn kém khác nhau trong điều trị. Cách điều trị khác nhau đó được chia thành ba bậc : Bậc hạ công là dụng tâm chữa ngọn, kết qủa nhanh thấy rõ ngay, chứng bệnh hết, nhưng gốc bệnh còn, sau sẽ chữa tiếp để ngừa biến chứng sang bệnh khác. Bậc trung công là biết phối hợp huyệt vừa chữa ngọn vừa chữa biến chứng truyền kinh, kết qủa tuy có chậm nhưng bệnh không bị biến chứng.

Bậc thượng công là biết phối hợp huyệt vừa chữa ngọn, vừa chữa gốc, vừa ngừa biến chứng truyền kinh.

Đời sau muốn học để chữa bệnh có kết qủa nhanh, bắt chước kinh nghiệm của bậc hạ công, mau nổi tiếng, chữa được chứng này hết, rồi lại chữa chứng khác khi có biến chứng truyền kinh sẽ kiếm được nhiều tiền hơn, hành y như thế thiên hạ gọi là bá đạo. Đa số có lương tâm hành y như bậc trung công thiên hạ gọi là y đạo. Còn các thầy thuốc dầy dặn kinh nghiệm thuộc bậc thượng công, cứu bệnh nhân không phải vì tiền, bệnh thuyên giảm rồi khỏe mạnh, hết bệnh, không tái phát, thiên hạ gọi là vương đạo. Vì thế đông y mới cần phải biết đối chứng trị liệu lâm sàng, phối hợp huyệt theo bát pháp nào mình chọn cho phù hợp với bát cương đã khám được, và công thức huyệt phải là vương đạo hay y đạo, trừ trường hợp cấp tính trong cấp cứu mới phải dùng đến công thức theo bá đạo.

Đối chiếu với đông y, dạng acide hay base đông y gọi là hàn hay nhiệt. Thực ra đông y không biết hàn nhiệt là base hay acide, mà chỉ biết hàn hay nhiệt đều do khí trong cơ thể biến hóa ra, có cách tìm theo tiêu chuẩn âm dương, nếu muốn giải thích khí hàn nhiệt theo khoa học, chúng ta có thể dùng máy micro-wave để giải thích, khi bỏ thức ăn nguội vào lò, bấm nút, chúng ta không nhìn thấy một vật chất nào tác động, chỉ là một bức xạ nhiệt truyền trong không khí bưng bít kín trong lò làm cho thức ăn nóng lên, bức xạ nhiệt đó tạo ra nhiệt. Ngược lại, nếu khoa học nghiên cứu máy micro-wave với một cấu trúc khác có công dụng tạo ra bức xạ hàn để làm nguội thức ăn, thì bức xạ hàn tạo ra khí hàn, cái mà hiện nay khoa học chưa nghĩ tới, chứ không phải là không làm được, chỉ cần thay đổi những con chip điện tử và hệ thống phối hợp mạch đìện. Như vậy huyệt giống như một con chip điện tử, nhưng sự biến hóa để tạo ra một công dụng sẽ khác nhau ( như hàn hay nhiệt ) tùy vào mức độ hiểu biết và khả năng chế tạo của nhà bác học.

Dư hay thiếu khí nào, huyết nào, kinh nào ,mạch nào, đông y phải tìm ra thực hay hư. ,giống như một chuyên viên sửa chữa mạch điện, đo volt, đo ohm, đo ampère hoặc đo tần số sóng đìện bằng máy đo oscilloscope ở các đầu ra, đầu vào ở mỗi con chip để biết con chip đó còn giữ đúng tiêu chuẩn của mạch điện theo yêu cầu kỹ thuật hay không, nó vượt tiêu chuẩn nhiều hơn gọi là thực, nó suy kém không đủ tiêu chuẩn gọi là hư.

Ngoài cơ sở vật chất do biến đổi khí huyết, hư thực, hàn nhiệt thuộc KHÍ, đông y còn khám xét đến yếu tố tinh thần gọi là THẦN và yếu tố do ăn uống làm lợi hay hại cho bệnh gọi là TINH cũng là nguyên nhân gây bệnh.

Chứng áp huyết còn nhẹ mới phát có thể do xáo trộn tâm lý thần kinh thuộc hư chứng như buồn, chán đời ( depression ) hay thực chứng như tức giận, căng thẳng thần kinh, lo nghĩ nhiều ( nerveuse, stress ).

Nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động giống như nguồn năng lượng cung cấp cho một mạch điện, nếu không có hoặc không đủ, máy cũng sẽ hư hỏng, rồi các con chip trong máy không thường xuyên chạy để bảo trì nó cũng sẽ bị ẩm thấp, hoặc khô nứt làm hư hỏng. Cơ thể con người cũng vậy, thức ăn cung cấp năng lượng hoạt động cho cơ thể ,đông y gọi là yếu tố TINH. Nếu nguồn năng lượng vào cơ thể bệnh không đúng nhu cầu đang cần, giống như cung cấp thay thế mấy con chip không đúng mã số, máy không chạy được. Cũng như thế, trong thức ăn hoặc ngay cả thuốc uống để chữa bệnh có thành phần acide, base, muối, có thứ tăng hàn, có thứ tăng nhiệt, có thứ tăng huyết, có thứ hại huyết, có thứ tăng khí, có thứ hại khí ,nó có thể lập lại quân bình sự hoạt động cơ thể hay làm mất quân bình hại cơ thể thêm , tùy theo sự mất năng lượng bên trong cơ thể nặng hay nhẹ, nếu nhẹ đông y gọi là bệnh còn ở biểu. Nếu tiếp tục ăn hoặc uống thuốc chữa bệnh sai không đúng những chất mà cơ thể cần thành bệnh nặng hơn, mãn tính, đông y gọi là bệnh ở lý.

d- Cách lập lại quân bình của đông y là đối chứng trị liệu lâm sàng :
Bệnh ở biểu, đông y khám xem do hàn thì làm mất hàn, hay cần phải tăng thêm nhiệt. Do nhiệt thì làm bớt nhiệt hay cần phải tăng hàn.

Bệnh ở lý, là bệnh thuộc dạng muối, nửa hàn, nửa nhiệt, hàn nhiều hơn nhiệt, hay nhiệt nhiều hơn hàn.

Muốn biết nguyên nhân tại sao hàn, tạo sao nhiệt, tại sao lẫn hàn lẫn nhiệt, đông y còn phải học thêm về cách phân tích bệnh lý theo âm dương ,tức là bệnh do khí hay huyết, hay do cả hai.

Khí hay huyết bị xáo trộn do tạng phủ nào, chứng áp huyết theo kinh nghiệm đông y có thể do một hay nhiều nguyên nhân sau đây :
Do tim, (nghẹt van tim, hẹp van tim, hở van tim..)
Do màng bao tim và ống mạch (tắc do cholesterol, máu vón đóng cục, trong máu có nhiều vôi, hẹp ống mạch )
Do lá mía ( trong bệnh tiểu đường )
Do bao tử (do ăn nhiều chất nóng tăng nhiệt, chưa tiêu hóa kịp làm khó thở mệt tim )
Do phổi (viêm, suyễn, nghẹt đờm, hút thuốc nhiều nóng phổi..)
Do đại trường (bệnh táo bón, viêm ruột kinh niên..),
Do thận (sưng bể thận, thận nhiệt trong bệnh tiểu đường..)
Do bàng quang ( nhiễm trùng, viêm tắc..),
Do gan (nóng gan, có độc trong gan, trong máu..),
Do túi mật ( tiết mật quá nhiều, tắc tuyến mật ..v.v..)

Tất cả các nguyên nhân trên, thầy thuốc đông y phải tìm ra trên lâm sàng (trong khi khám trực tiếp trên giường bệnh ), sau đó phải tìm ra cách đối phó với nguyên nhân ấy gọi là đối chứng trị liệu lâm sàng . Như vậy, riêng một bệnh về áp huyết do nhiều nguyên nhân thì cũng phải có nhiều công thức khác nhau để đối chứng trị liệu, rồi trị liệu khi nào cần cấp cứu như bá đạo, khi nào chữa theo y đạo, khi nào chữa theo vương đạo, nếu chỉ ăn cắp sưu tập hàng trăm công thức để chọn ra một công thức cầu may nào mà mình nghĩ rằng phù hợp với bệnh nhân là chữa không đúng theo cách đối chứng lâm sàng.

Muốn đối chứng trị liệu lâm sàng được chính xác phải hiểu cách lý luận biện chứng ngũ hành, và ngũ hành là gì ?

Đông y gọi chung những nguyên nhân kể trên thuộc ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Có ngũ hành thuộc âm huyết, có ngũ hành thuộc dương khí .
Kim tượng trưng cho phổi và đại trường.
Thủy tượng trưng cho thận và bàng quang.
Mộc tượng trưng cho gan và túi mật.
Hỏa tượng trưng cho tim và ruột non; tâm bào và tam tiêu.
Thổ tương trưng cho lá mía và bao tử.

Lý thuyết ngũ hành là một định đề như toán học, toán học nhờ định đề mới có thể chứng minh được mọi bài toán để đem ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Cũng như thế, có công nhận định đề âm dương ngũ hành, mới khám phá ra những lý luận chặt chẽ để tìm ra nguyên nhân gây bệnh, tìm được nguyên nhân bệnh theo đông y đã khó, lại còn phải theo quy luật âm dương ngũ hành của huyệt phù hợp với âm dương ngũ hành của bệnh để biết lập lại quân bình sự khí hóa lại là việc khó hơn nữa, cho nên ngay cả một số thầy thuốc không giỏi lý luận ngũ hành, để tự mình có thể điều chế ra thuốc cho phù hợp với tình trạng bệnh mà chỉ biết áp dụng những công thức sẵn có của người khác để lại thì không thể nào gọi là phương pháp đối chứng trị liệu lâm sàng cho riêng bệnh của từng người được.

e-Sự khác biệt cách áp dụng huyệt đối chứng lâm sàng của tây y và đông y :


Thí dụ có một bệnh nhân khai bệnh như sau :
Xây xẩm, ù tai, mắt mờ, lòng bàn tay chân nóng, di tinh, mất ngủ, lưng gối đau nhức mỏi, khô miệng.

ĐỐI CHỨNG TRỊ LIỆU Theo Bác sĩ Tây y :
Dấu hiệu lòng bàn tay chân nóng : Đo nhiệt độ : Nếu bình thường thì không phải bệnh nhiễm trùng, nếu nhiệt độ cao phải thử máu tìm vi trùng.
Xây xẩm : Đo áp huyết nếu thấp là do thiếu máu sẽ cho thuốc bổ máu, nếu bình thường thì bỏ qua vì là nguyên nhân thứ phát.
Mắt mờ : Nếu không do áp huyết thấp, gửi đi chuyên khoa khám mắt.
Mất ngủ : Cho thuốc an thần.
Đau lưng nhức mỏi : Cho thuốc giảm đau. Nếu thuốc giảm đau không hết, gửI đi chuyên khoa chụp hình lưng gối.
Khô miệng : Khuyên uống nhiều nước.

ĐỐI CHỨNG TRỊ LIỆU Theo châm cứu Tây y
Chọn những đơn huyệt nào chữa xây xẩm, huyệt nào chữa ù tai và di tinh, huyệt nào hạ nhiệt, huyệt nào chữa mất ngủ, huyệt nào hành khí hành huyết cho khí huyết lưu thông, huyệt nào chữa đau nhức mỏi. Nếu chữa theo đơn huyệt bệnh nào huyệt nấy là chữa ngọn, phải chữa nhiều huyệt cho nhiều bệnh là đã phạm quy luật xung khắc ngũ hành, tất cả số huyệt gom lại tạo nên một thế trận mâu thuẫn kỳ quái, cơ thể tiết ra một loại thuốc kỳ quái thành liều thuốc độc gây phản ứng phụ, đã không chữa được những bệnh kể trên mà tạo ra một bệnh khác, cho nên châm cứu tây y lại nghi ngờ đến khả năng chữa bệnh của huyệt. Nếu chữa ngọn như thế kéo dài cả năm bệnh cũng không khỏi. Nhưng nếu chữa theo bá đạo, bệnh nhân khai nhiều bệnh, nhưng mỗi lần chữa, chỉ chữa một bệnh thì không phạm ngũ hành, hợp huyệt tạo thành một thế trận duy nhất tạo ra một vị thuốc tập trung cho một bệnh, châm vài lần hết được một bệnh, được bệnh nhân cho là thầy giỏi, châm đợt hai bớt bệnh thứ hai, châm đợt ba bớt bệnh thứ ba, châm đợt bốn bớt bệnh thứ tư, một thời gian sau bệnh thứ nhất tái phát, rồi lần lượt các bệnh cũ tái phát lại tiếp tục chữa như cũ . Vì theo châm cứu Tây y chỉ có những huyệt đó đã nghiên cứu và đã biết thì khả năng của huyệt chỉ giới hạn có vậy thôi. Như vậy, thực tế chưa có một thầy thuốc châm cứu tây y nào được thiên hạ biết đến trong những ca bệnh thành công mà báo chí phổ biến như những ca thành công của các bác sĩ tây y. Các thầy thuốc châm cứu tây y còn nghi ngờ đến khả năng chữa bệnh của huyệt vì không biết áp dụng quy luật âm dương ngũ hành, bát pháp, bát cương để lập thế trận tạo ra thuốc bằng hợp huyệt, nhưng có một số các thầy thuốc châm cứu tây y có chí học hỏi nghiên cứu thêm, hằng năm vẫn sang Trung Quốc tu nghiệp nâng cao kiến thức và tay nghề, nhưng dù sao đánh giá khả năng của các thầy thuốc châm cứu không ai chính xác bằng các bệnh nhân, khi họ muốn chữa bệnh bằng châm cứu họ đã chọn các thầy châm cứu người Á đông hơn là người tây phương.

ĐỐI CHỨNG TRỊ LIỆU Theo châm cứu đông y :
Dựa theo kinh nghiệm cổ nhân đã nghiên cứu thực nghiệm thành công từ mấy ngàn năm, từ đời này sang đời khác, kết qủa đều giống nhau, từng để lại câu nói ”cái gì chưa biết mới cần phải thử, cái đã biết rồi khỏi cần phải thử nữa ” , cho nên khi học về triệu chứng lâm sàng, sách có ghi CHỨNG CAN THẬN ÂM HƯ như sau: Một trong hai tạng suy đều có ảnh hưởng cả hai, nên dấu hiệu cả hai tạng đều xuất hiện cùng lúc như xây xẩm, tai ù, mắt mờ, lòng bàn tay chân nóng, di tinh ,mất ngủ, lưng gối mỏi, lưỡi đỏ, ít nước bọt. Theo kinh nghiệm cổ nhân, các chứng này thường gặp ở các bệnh nhiệt cấp tính thời kỳ cuối, bệnh rối loạn tiền đình, bệnh thiếu máu, bệnh thần kinh, bệnh nộI thương, bệnh kinh nguyệt.

Trong triệu chứng lâm sàng học đã nói một chứng sinh ra nhiều bệnh (định lý thuận ), nhưng một bệnh có thể do nhiều chứng khác nhau không giống nhau ( định lý đảo ).

Như vậy, bệnh rối loạn tiền đình hay bệnh thiếu máu, hay bệnh thần kinh, hay bệnh kinh nguyệt có thể do chứng can thận âm hư, có thể do chứng can hư, có thể do chứng tâm thận bất giao, có thể do nhiều chứng khác nữa. Tuy nhiên các chứng được xem là nguyên nhân gây bệnh đều phải nói lên được các yếu tố sau đây : tạng hay phủ nào, thuộc khí hay huyết, hư hay thực, hàn hay nhiệt, biểu hay lý, để khi đối chứng trị liệu sẽ tìm ngũ hành tương sinh hay tương khắc để bổ hay tả, để tăng hay gỉảm hàn hay nhiệt. Cách chữa bổ, tả, hàn, nhiệt, phương pháp chọn công thức chữa tùy vào kinh nghiệm và kiến thức hiểu biết của thầy thuốc muốn chữa theo bát pháp nào, cho ôn hay cho hòa, cho liễm hay cho xuất, cho thăng hay cho giáng, chữa vào khí hay vào huyết, hay cả khí cả huyết cùng lúc. Nói như thế thì chứng can thận âm hư chúng ta cũng có thể phát minh ra mấy chục công thức khác nhau, miễn làm sao sau khi chữa những dấu hiệu lâm sàng do bệnh nhân khai phải có sự thay đổi chuyển biến từ xấu sang tốt trong thời gian ngắn, lần chữa thứ hai dấu hiệu lâm sàng bớt đi, công thức đối chứng trị liệu lâm sàng phải thay đổi hợp huyệt khác lập thành thế trận mới, sau khi chữa bệnh thuyên giảm, chữa lần thứ ba khám lại dấu hiệu lâm sàng, rồi đối chứng trị liệu lâm sàng, đổi hợp huyệt lập thế trận khác nữa, thế trận mỗi lúc mỗi thay đổi cho đến khi khỏi bệnh hoàn toàn không tái phát. Nếu thầy thuốc nào cứ một công thức dùng hoài thì không phải là đối chứng trị liệu lâm sàng, cách thay đổi công thức này tây y không chấp nhận. Đối với tây y, một bệnh chỉ có một công thức chữa mà thôi.

Nếu so sánh châm cứu tây y với châm cứu đông y thì châm cứu tây y đi theo con đường khoa học thực nghiệm, thực chứng, theo mô hình đơn chất như một nguyên tố hóa học, cho nên việc điều chế nhiều đơn chất thành hợp chất như các hợp chất hóa học thì cũng không bao giờ đủ thuốc để chữa mọi bệnh và đúng nhu cầu của bệnh, và chính các hợp chất hóa dược định chế biến cũng phải mất bao nhiêu công phu và thời gian tìm tòi, thử nghiệm, áp dụng lâm sàng, rút kinh nghiệm trong một thời gian qúa dài mà vẫn chưa đi đúng đường của đông y là đối chứng trị liệu lâm sàng.

Về lý luận ngũ hành trong khám bệnh, tìm bệnh trên lâm sàng, đông y dùng phương pháp tứ chẩn : vọng, văn, vấn, thiết để phân tích bệnh tình theo bát cương : âm, dương ( khí, huyết), hư, thực, hàn, nhiệt , biểu, lý.

Về lý luận ngũ hành trong đối chứng trị liệu , là bổ cái gì, tả cái gì ( khí hay huyết, tạng nào, phủ nào, tâm , can, tỳ, phế, hay thận..) theo tiêu chuẩn một trong tám phương pháp gọi là Bát pháp: Ôn, trấn, thanh, hòa, xuất ( thổ, hạ, tiết), liễm, bổ, tả.

Về lý luận ngũ hành chọn huyệt , không căn cứ theo đơn huyệt như châm cứu tây y, mà nghiên cứu theo chức năng khí hóa của huyệt có những tính chất khác biệt như :

Bát hội huyệt chủ chữa về : huyết, khí, gân, mạch, cốt, tủy, tạng hội, phủ hội.
Vinh huyệt chủ dinh dưỡng, phát triển.
Vệ huyệt là hệ nội tiết, miễn nhiễm phòng chống bệnh.
Ngũ du huyệt trên đường kinh để điều chỉnh bổ thêm khí hoặc huyết cho mạnh lên hay tả bớt cho yếu đi để trợ giúp đường kinh khác theo quan hệ mẹ con ( con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con ).
Ngũ du huyệt theo chiều đi của khí mạnh hay yếu là các huyệt căn, kết ( huyệt khởi đầu, huyết kết thúc ) ,và các huyệt Tĩnh, vinh, du, nguyên, kinh , hợp.
Du- Mộ huyệt để chỉnh chức năng hay cơ sở tạng phủ.
Bối du huyệt chỉnh thần kinh giao cảm, đối giao cảm của tạng phủ.
Chủ- khách huyệt theo biểu lý của Kỳ kinh bát mạch.
Giao hội huyệt là huyệt có khả năng điều chỉnh bệnh tình của hai đường kinh hay nhiều đường kinh mà không sợ phạm ngũ hành, thay vì phải chọn nhiều huyệt trên nhiều đường kinh bị bệnh để chữa sẽ làm rối loạn thế trận ngũ hành.
Ngoài ra còn hàn nhiệt huyệt, khích, lạc huyệt và đặc tính riêng cuả huyệt theo bát pháp có tính chất thăng, giáng, xuất, liễm, hòa, cố.

f- Huyệt quân bình ngũ hành khí hóa của tổng thể :

Tức là chọn các huyệt theo một thế trận chung theo quân thần tá sứ, giống như một bài thuốc uống bằng dược thảo, dĩ nhiên có rất nhiều huyệt công dụng giống nhau có thể ứng tuyển, nhưng khi quyết định chọn, thì chỉ được chọn một huyệt đáp ứng đúng với nhu cầu cần thiết sẽ tạo ra một sức mạnh kỳ diệu để chữa bệnh bao gồm nhiều chứng, mà không cần phải dùng nhiều thuốc chữa nhiều bệnh như tây y. Như vậy, công thức huyệt chúng ta lựa chọn chưa chắc giống vào một trong hàng trăm công thức theo sách vở học lóm được của người khác. Còn phải chú ý thế trận ngũ hành là tuân theo thứ tự ưu tiên của huyệt, làm đảo lộn thứ tự huyệt sẽ trở thành một công thức thuốc khác để chữa bệnh khác. Thí dụ thứ tự huyệt là 1234 chữa bệnh A, 1324 chữa bệnh B, 3214 chữa bệnh C, 4321 chữa bệnh D, 3421 chữa bệnh E, 3241 chữa bệnh F.. Như vậy theo các thầy thuốc châm cứu tây y ,nếu xem huyệt chỉ là đơn chất, và đặc tính của huyệt 1,2,3,4 là cố định, thì miễn sao cứ sử dụng cả 4 huyệt cách nào cũng được thì sẽ không có kết qủa, bởi chưa nghiên cứu được sự kỳ diệu của huyệt theo trận pháp ngũ hành, nên tây y còn nghi ngờ khả năng chữa bệnh bằng huyệt của đông y.

g- Kỹ thuật tác động huyệt sao cho có hiệu qủa :
Vì cùng một chứng bệnh giống nhau, đã tìm ra một công thức huyệt đối chứng lâm sàng giống nhau cho từng trường hợp bệnh, và do sự khí hóa lập lại quân bình của công thức chế tạo thuốc bằng hợp huyệt, hay thuốc ngoại dược là đông dược hoặc tây dược, bệnh sẽ biến chuyển mỗi lúc mỗi thay đổi khác nhau, cho nên không thể dùng mãi một công thức, hay một loại thuốc cố định suốt đời được. Nhưng yếu tố cuối cùng bệnh nhân mau khỏi bệnh hay không còn lệ thuộc vào kỹ thuật tác động trên huyệt.

Có ba phương pháp tác động trên huyệt đem lại kết qủa khác nhau :
a- Châm bằng kim kém hiệu nghiệm, vì ít có thầy giỏi châm trúng huyệt, tùy theo người châm, kết qủa từ 10 đến 50%.

b- Day bấm huyệt ,tránh được sự lây nhiễm truyền bệnh qua kim châm cứu lại hiệu nghiệm hơn châm kim, vì nó kích thích trực tiếp trên huyệt làm bệnh nhân đau, khiến bệnh nhân phải chú ý theo dõi cái đau, bộ não phải điều tiết nội dược tạo phản ứng chống đau, đó chính là thuốc do huyệt làm ra để tự chữa bệnh, cho đến khi bệnh nhân cảm thấy hết đau nơi huyệt đã bấm. Day bấm huyệt có hiệu qủa chữa bệnh tốt hơn châm cứu bằng kim, kết qủa 30-60%.

c- Vuốt huyệt truyền khí, bệnh nhân không bị đau như day bấm huyệt, nhưng vuốt huyệt có hai tác dụng :
Tác dụng do lực đẩy theo chiều bổ hay tả của ngón tay thầy thuốc làm cho đường kinh mạch định hình và khí huyết trong cơ thể bệnh nhân được khai thông và chạy mạnh hơn. Kết qủa 40-60%.
Tác dụng thứ hai do nội lực của thầy thuốc truyền sang tăng thêm sức đẩy cho kinh mạch vô định hình chạy mạnh hơn, cũng vì thế ,thầy thuốc chữa bệnh bằng huyệt thời xưa đều tập luyện khí công nội lực để truyền khí qua huyệt mà không bị mệt và mất sức. Kết qủa 70 % trở lên.

Hình thức nhân điện truyền vào huyệt bệnh nhân cũng thấy kết qủa hơn châm bằng kim, nhưng thầy nhân điện bị bệnh nhân thu hết điện theo nguyên tắc bình thông nhau, nhân điện không phải nội lực ,nên thầy có sức khỏe rồi cũng yếu dần, thầy càng chữa nhiều người thầy càng mất sức nhiều, nếu chữa nhiều người thì khí lực của bệnh nhân và thầy thuốc san bằng nhau, hai người đều bệnh, các bệnh nhân được chữa sau cùng không khỏe mà còn bị bệnh của thầy thuốc truyền sang.
Đỗ Đức Ngọc

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *