Nguyên nhân bệnh cao huyết áp tại sao khó chữa?

Phần 2 trong Câu chuyện Đông Y (Tập 3a) – Tác giả Đỗ Đức Ngọc

Nguyên nhân bệnh cao huyết áp?

Bệnh cao huyết áp tại sao khó chữa ?

Đó là một câu hỏi còn nhiều thắc mắc nghi ngờ của cả hai giới, bệnh nhân và thầy thuốc. Có thể nói bệnh cao huyết áp còn khó chữa hơn bệnh nghiện ma túy, vì nghiện ma túy là một đam mê tự nguyện, ngày nào đó tỉnh ngộ có thể dứt bỏ mà tánh mạng không bị đe dọa, ngược lại, thuốc trị bệnh cao huyết áp hiện nay dù biết nó không thể trị dứt mà không bệnh nhân nào dám bỏ, phải dùng suốt đời cho đến khi chết, đó là điều nghịch lý đã làm cho ngành y khoa phải khổ tâm tìm tòi, nghiên cứu, phát minh không ngừng nghỉ.

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu nguyên nhân bệnh cao huyết áp từ đâu đến theo hai quan niệm của Tây y và Đông y hầu tìm ra được phương pháp chữa thích hợp có hiệu qủa.

Nguyên nhân bệnh cao huyết áp theo Tây Y

Bệnh cao huyết áp là bệnh thuộc tim mạch, có hai nguyên nhân cao huyết áp là nguyên phát gây ra bệnh cao huyết áp thường xuyên và nguyên nhân thứ phát gây ra bệnh cao huyết áp bởi ảnh hưởng của một bệnh khác .

Tuy nhiên  trên thực tế Tây y cũng đặt ra nhiều nghi vấn và giả thuyết để từ đó mới quyết định xem cần xét ngiệm cái gì để tìm nguyên nhân bệnh.

1-Về Khám Bệnh cao huyết áp:

Thầy thuốc có thể nghi nguyên nhân do các loại thuốc khác gây ra bệnh cao huyết áp thứ phát như:

Thuốc ngừa thai, thuốc có chất cam thảo như Malox trị bệnh bao tử, thuốc xịt mũi làm co mạch để chữa bệnh nghẹt mũi, thuốc trị co giật trong bệnh Parkinson, thuốc trị phong thấp khớp, thuốc  calcium trị bệnh xương, loại thuốc chữa bệnh trầm cảm I.M.A.O (Inhibiteurs de Mono-Amine-Oxydase),thuốc ức chế enzyme monoaminoxydaza, các loại thuốc chữa dépression, thuốc suyễn, Histamine, Sulpirid, lạm dụng Vitamine D bị ngộ độc, lạm dụng thuốc lợi tiểu, thuốc nhuận trường, thuốc adrénaline, corticoĩde, dùng thức ăn có chất men tyramine như rượu, frommage, men bia, nấm, gan gà..

Thầy thuốc phải khám tim, động mạch, đáy mắt, chức năng thận, bàng quang và gửi đi xét nghiệm những gì cần thiết có liên quan đến chẩn đoán, để so sánh những kết qủa với những điều mình nghi ngờ cao huyết áp khi chẩn đoán có đúng không, rồi mới quyết định cách chữa.

2-Về xét nghiệm bệnh cao huyết áp:

Phòng  xét  nghiệm cao huyết áp  thường  xét  nghiệm  máu  và nước tiểu để biết uré-huyết, glucoza-huyết, acide-uric- huyết, aldostérone-huyết, kali-huyết, lipide-huyết, calci- huyết,  natri-huyết,  phosphate-huyết,  créatinine,  ion  đồ máu  và  nước  tiểu,  protéine-niệu, cặn  Addis,  vi  khuẩn trong nước tiểu, natri-niệu, kali-niệu, định lượng VMA (Vanillyl Mandelic Acide) trong nước tiểu..

Chụp X-quang ngực xem động mạch, tĩnh mạch bị phình hay hẹp, X-quang đường niệu để tìm ra sự chậm bài tiết, vết tổn thương đường niệu, chụp thận, bàng quang tìm xem thận bị ứ nước hay ứ mủ hay teo thận, sỏi thận, đau nang, phình động mạch thận (khi nghe có tiếng thổi cạnh rốn), xét điện tâm đồ, điện não đồ xem có tổn thương não, viêm não, áp lực sọ não hoặc do nguyên nhân tâm lý lo âu xung động mãnh liệt (raptus anxieux)đã làm cho biểu đồ dao động bất bình thường. Chụp đầu tìm khối u như u nguyên  bào  thần  kinh  giao  cảm,  u  hạch  thần  kinh,  u nguyên bào thận, u mạch tế bào quanh mao mạch thận hoặc  do  nội  tiết  tăng  năng  tuyến  giáp,  tăng  năng  vỏ thượng thận, hay suy thận, hay tắc mạch máu não…

3-Về định bệnh:

Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc khám phá và tìm bệnh, tìm nguyên nhân của một căn bệnh càng ngày càng nhanh chóng và dễ dàng hơn xưa, và với kinh nghiệm của thầy thuốc dựa vào kết qủa xét nghiệm, chúng ta có thể phân biệt được thế nào là cao huyết áp mãn tính, cao huyết áp do thuốc, cao huyết áp cấp tính kịch phát, cao huyết áp tâm thu, cao huyết áp tâm trương, cao huyết áp khi mang thai, cao huyết áp với giảm kali-huyết, cao huyết áp do dư calci trong máu, cao huyết áp do dư đường trong máu, cao huyết áp do thiếu máu nghiêm trọng hémoglobine dưới 7g/100ml, cao huyết áp do xáo trộn nội tiết dư hoặc thiếu hormone nhất là trong thời kỳ tiền mãn kinh, tăng tuyến hạch, u bướu, cao huyết áp do tim mạch như hở lỗ động mạch chủ, rò động mạch, tĩnh mạch, xơ gan, tổn thương thận..

Như vậy do xét nghiệm chúng ta thấy có hàng chục loại bệnh cao huyết áp do nhiều nguyên nhân khác nhau, nếu không truy tìm nguyên nhân, chỉ dùng máy đo áp  huyết, thấy  lúc  nào  cũng  cao  hơn  tiêu  chuẩn bình thường (trên 140mmHg/90mmHg) và có những dấu hiệu đau đầu ở phía gáy, ù tai, chóng mặt, mệt mỏi, cảm giác ruồi  bay  trước  mắt,  chảy  máu  cam,  tim  đập  bất  bình thường.. ai cũng biết đó là bệnh cao huyết áp.

4 Giai đoạn phát triển của bệnh cao huyết áp

Bệnh cao huyết áp không đơn giản dừng lại ở đây mà nó cứ phát triển mãi càng ngày càng nặng, Tây y chia ra làm 4 giai đoạn:

a-Giai đoạn một:

Đo áp huyết thấy cao thường xuyên, mà xét nghiệm không thấy có tổn thương thực thể ở tim, gan, thận,  mạch,  chỉ  thấy  có  cholestérol  hoặc,  calci,  hoặc Chlor, hoặc Natri trong máu cao, trong nước tiểu tăng.. cho nên người bệnh cần phải cữ ăn chất béo, chất mặn. Vì chất béo làm tăng cholestérol trong máu sẽ làm nghẽn hẹp ống mạch bao quanh tim, ăn mặn làm số lượng muối ClNa vào cơ thể không chuyển hóa và đào thải kịp làm tăng Chlor và Natri trong máu và trong nước tiểu. Có dư Natri- huyết dễ làm kết tủa cholestérol tập trung nơi ống mạch máu về tim làm tắc nghẽn những ống mạch quanh tim sẽ dẫn đến bệnh sang giai đoạn hai.

b-Giai đoạn hai:

Nếu cơ thể khỏe mạnh, phản ứng tự nhiên là ‘’ khi ăn mặn, phải khát nước’ ’tức là phản ứng tự động của cơ thể đòi tiếp tế thêm nước để chuyển hóa Cl và Na dư thừa ra đường tiểu để bảo vệ máu không dư Natri, nếu không Natri sẽ kết tủa chất béo làm tổn thương thực thể như tim bị dầy tâm thất bên trái, hẹp động mạch võng mạc, có protéine niệu hoặc créatinine huyết tương tăng nhẹ.

c-Giai đoạn ba:

Dầy thất trái dẫn đến suy thất trái khiến qủa tim co bóp để cho huyết lưu thông không đều, xuất huyết não thành biến chứng tê liệt, nhẹ thì liệt mặt méo miệng do liệt thần kinh ngoại biên, nặng thì thêm bệnh Parkinson co giật đầu và tay chân, nặng nữa thì bán thân bất toại. Nếu không tổn thương não thì tổn thuơng đáy mắt làm xuất huyết võng mạc, sụp mí mắt, phù gai thị, nếu không tổn thương não, tổn thương mắt thì bị cơn đau thắt ngưc (angine) làm nhồi máu cơ tim (crise cardiaque), nếu qủa tim còn khỏe sẽ có tổn thương thận như suy thận..

d-Giai đoạn bốn:

Cao huyết áp ác tính thuộc giai đoạn bốn thường gặp ở những người đã có bệnh ở các giai đoạn trên dù bệnh còn nhẹ hay vừa nhưng chữa không đúng nguyên nhân, chỉ chữa cầm chừng ngăn ngừa không cho áp huyết tăng lên chứ không làn áp huyết hạ xuống mức bình thường, có khi không phải thuốc mà do sai lầm ăn uống, biến đổi tâm lý thần kinh, tự nhiên đau đầu dữ dội, đáy mắt xuất huyết độ 3 hoặc phù gai thị độ 4, huyết áp lên cao cả tâm thu lẫn tâm trương (cả số đo trước, số đo sau),khát nước nhiều, sụt cân, rối loạn tiêu hóa, bệnh tiến nhanh làm tai biến mạch máu não hoặc tai biến ở tim (stroke) dẫn đến tử vong.

Nguyên nhân bệnh cao huyết áp theo đông y

Từ khi Đông y thuở sơ khai ,chưa dựa vào học thuyết  âm  dương  ngũ  hành  của  Khoa  triết  học  đông phương để lập nên hệ thống lý luận kinh mạch tạng phủ và sự liên kết khí hóa, chỉ xem như là một giả thuyết chưa qua kinh nghiệm thực hành cách nay khỏang 6000 năm, mà nhu cầu đối phó với bệnh tật con người ở thời nào cũng có, do đó các thầy thuốc Trung Quốc thời cổ đại muốn nghiên cứu lý thuyết kinh mạch, tạng phủ, ngũ hành trên cơ thể con người để tìm hiểu thấu đáo về nguyên nhân bệnh tật, đã được phép nhà vua cho sử dụng tử tội để mổ xẻ nghiên cứu trên thân thể sống của tử tội, phải mất một thời gian dài hàng ngàn năm khám phá ra huyệt đạo, kinh mạch, được thử và theo dõi những loại thuốc đang nghiên cứu đưa vào cơ thể tội nhân, cứ thế từ đời này sang đời khác để bảo đảm công việc nghiên cứu dựa trên mọi giả thuyết đã được chứng minh là đúng trong cùng một điều kiện có kết qủa như nhau ở mọi thời đại, cuối cùng đông y đã đúc kết kinh nghiệm hoàn chỉnh thành hệ thống lý luận căn bản trong việc khám và chữa bệnh. Về châm cứu có quyển Hoàng Đế Nội Kinh, về dược thảo có Bản Thảo Thần Nông. Các đời sau có các thánh y bổ sung thêm kiến thức làm cho sáng tỏ và vững chắc rõ ràng hơn như thần y Tàn Việt Nhân hiệu Biển Thước soạn ra quyển Nạn Kinh, Hoa Đà dạy mổ xẻ và bào chế thuốc. Càng về sau càng có nhiều danh y áp dụng càng thấy chính xác và có cái hay độc đáo của nó. Có thể nói hơn 2000 năm, những giả thuyết, những nghi ngờ đều dùng thân sống của tử tội để mổ xẻ chết biết bao nhiêu người để đúc kết một phương pháp chữa bệnh hoàn chỉnh và độc đáo của đông y, cuối cùng các thầy thuốc không dám lạm dụng thân sống của tử tội để thử nghiệm những cái gì đã biết do kinh nghiệm tiền nhân để lại, cho nên họ nói rằng ‘’  cái gì chưa biết mới phải thử, cái gì đã biết rồi khỏi cần phải thử nữa ‘’.

Do đó, suốt 2000 năm tây lịch, y học phương tây phát triển giỏi về khoa giải phẫu mà không hề thấy bên đông y có thuật giải phẫu, cho nên khi so sánh hai cách chữa bệnh của đông-tây y thì đông y có về lỗi thời, khám bệnh bằng nghe 28 bộ mạch đập ở cổ tay có vẻ mơ hồ khó tin, còn châm cứu dựa vào huyệt đạo kinh mạch lại mơ hồ giả tưởng vì khi giải phẫu hoặc chụp hình cơ thể không thấy. Nhưng kết qủa chữa bệnh thì không thể phủ nhận được.

Đúng ra 6000 năm qua nó phải lỗi thời, ai mà chẳng muốn sửa đổi, nhưng qủa thật nó qúa đơn giản đến mức không thể sửa đổi căn bản, nó là chân lý, nhờ chân lý người ta có thể gia tăng nhiều sáng tạo hơn. Nó đơn giản chỉ có 5 hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tượng trưng cho tạng âm là phổi, gan, thận, tim, lá mía và phủ dương là ruột già, túi mật, bàng quang, ruột non, bao tử . Nó là một môn khoa học như toán học, cả thế giới đều công nhận chỉ có 10 con số từ 0 đến 9 và 4 phép toán cộng ,trừ, nhân,chia, không bao giờ thay đổi. Mười con số và 4 phép toán đã phát minh ra từ thời con người biết sống thành đoàn thể để giao tiếp hàng ngày về buôn bán, phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật, các nhà bác học cũng dựa vào chân lý đơn giản này mà đã sáng tạo được nhiều môn học như đại số, số học, hình học, cơ học, lượng giác, giải tích, tích phân, vật lý, hóa học, vi phân, vi tính,,,phát minh ra nhiều phép tính, ra nhiều máy móc điện toán cũng không ngoài 10 con số và 4 phép tính căn bản, đơn giản này.

Lý thuyết âm dương ngũ hành giống như một định đề toán học, có chấp nhận nó mới dùng nó để chứng minh các bài toán học, đó là sự tiến bộ của khoa học, cũng như thế, từ lý thuyết đến lý luận của âm dương ngũ hành dựa theo triết học của môn dịch-lý , mọi sự vật đều biến đổi theo một quy luật cực âm sinh dương, cực dương sinh âm, giữa  hai  giai  đoạn  có  sự  biến  đổi  âm  dương  là  sinh, trưởng, hoá , thâu, tàng nối tiếp nhau liên tục như trái rụng xuống đất, hạt nẩy mầm (sinh), lớn lên thành cây (trưởng), đơm hoa (hoá), kết trái (thâu),rụng xuống đất ủ thành mầm (tàng), rồi lại sinh, trưởng, hoá, thâu tàng liên tục.

Đem áp dụng học thuyết âm dương ngũ hành tạng phủ trong việc trị bệnh cho con người, các thầy thuốc đông y đã biết phối hợp chặt chẽ về cách khám và cách chữa đối chứng trị liệu lâm sàng vào mỗi lúc mỗi biến đổi bệnh tình khác nhau, họ đã ghi nhận được những giai đoạn biến đổi bệnh lý bằng phương pháp khám bệnh theo tứ chẩn: vọng văn vấn thiết  thay cho môn khoa học xét và thử nghiệm của tây y, và đã thống kê được kinh nghiệm

28 loại mạch khác nhau do sự biến đổi của bệnh tình dựa vào 8 yếu tố căn bản như kim chỉ nam của đông y gọi là bát cương như âm-dương, hư-thực, hàn-nhiệt, biểu-lý.

A-Về Khám Bệnh:

Xét bệnh theo Âm-Dương: 

Âm bệnh thuộc về huyết bệnh, do tạng nào bệnh, bệnh về cơ sở hay bệnh về chức năng.

Dương bệnh thuộc về khí bệnh, do phủ nào bệnh, bệnh về cơ sở hay bệnh về chức năng.

Xét bệnh theo Hư-Thực:

Hư là hoạt động yếu kém, thiếu hụt về khí hay về huyết, về cơ sở hay về chức năng ở tạng nào, phủ nào, đã tổn thương thực thể hay chưa .

Thực là dư thừa, hoạt động qúa mạnh làm mất sự quân bình của tổng thể làm xáo trộn khí hay huyết, về cơ sở hay về chức năng ở tạng nào phủ nào, đã tổn thương thực thể hay chưa.

Xét bệnh theo Hàn-Nhiệt:

Vì mất quân bình âm dương của tạng phủ do hư hay thực, cơ thể sinh ra phản ứng nóng hay lạnh khác nhau, như hư hàn, hư nhiệt hay thực hàn, thực nhiệt. Đông y phân biệt ra chứng hàn, chứng nhiệt của từng tạng phủ từ đơn giản đến phức tạp.

Xét bệnh theo Biểu-Lý:

Tùy theo đường kinh của tạng phủ bị bệnh, đông y biết được bệnh tình nhẹ thuộc biểu, hoặc bệnh đã tiến sâu vào phủ tạng thành bệnh nặng thuộc lý.

B-Về Định Bệnh:

Qua kinh nghiệm tứ chẩn Vọng, Văn, Vấn, Thiết đều quy về bát cương âmdương, hư-thực, hàn-nhiệt, biểu- lý , đông y nhận thấy những biến đổi và diễn tiến của bệnh tình từ nặng sang nhẹ là bệnh thuyên giảm hoặc từ nhẹ sang nặng là bệnh tình trở nên nặng hơn, và đã đúc kết được những kinh nghiệm của những loại bệnh luôn luôn có những biến đổi giống nhau gọi là dấu hiệu lâm sàng ,từ đó, đông y lý luận sắp loại thành hơn một ngàn loại bệnh chứng kèm theo dấu hiệu lâm sàng lập thành môn học triệu chứng lâm sàng . Như vậy phần định bệnh phải chỉ rõ nguyên nhân của những dấu hiệu lâm sàng do âm hay dương, do tạng hay phủ, hư hay thực, hàn hay nhiệt, biểu hay lý và gọi chúng là một chứng bệnh.

Bệnh cao huyết áp đối với đông y có hư, có thực, hoặc hư thực lẫn lộn do nhiều nguyên nhân khác nhau như do chức năng gan thận, do tổn thương cơ sở ở tim, ở gan, thận, có thể do can phong, do ứ huyết, do đờm..nhưng phải xếp theo bát cương thành một chứng, và có 4 chứng chính thường gặp gồm có:

1-Dương cang can nhiệt chứng , hay là nguyên nhân bệnh cao huyết áp do gan nhiệt:

Dãu hiệu lâm sàng:  Đầu váng căng đau, trán nóng, buồn bực, dễ cáu giận, họng khô, ráo, nóng, thích uống nước mát, đại tiện khô, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác. Đối chứng trị liệu phải thanh nhiệt bình can.

2/ Nguyên nhân cao huyết áp do Âm hư dương can chứng, hay do thận hư gan thực:

Dấu hiệu lâm sàng: Đầu váng căng đau, dễ cáu giận, miệng họng khô, lưỡi đỏ,rêu lưỡi khô, lưng gối nhức mỏi, mạch huyền. Đối chứng trị liệu phải Tư thận bình can.

3/ Nguyên nhân cao huyết áp do Can thận âm hư chứng, hay là do gan và thận âm hư:

Dấu hiệu lâm sàng: Váng đầu, hoa mắt, hay quên, mất ngủ, sắc lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, lưng gối nhức mỏi ,kinh nguyệt không đều, mạch huyền sác. Đối chứng trị liệu lâm sàng phải Tư Bổ Can Thận.

4/ Nguyên nhân cao huyết áp do Âm-Dương lưỡng hư chứng, do gan thận âm dương đều hư:

Dấu hiệu lâm sàng giống trường hợp 3 có thêm hiện tượng tiểu đêm nhiều, thỉnh thoảng chân lạnh, mạch xích vô lực. Đối chứng trị liệu lâm sàng phải Tư âm ôn thận.

Ngoài 4 trường hợp trên thuộc loại cao huyết áp mãn tính cần chữa trị lâu dài, còn có một số bệnh cao huyết áp do nguyên nhân thứ phát, ảnh hưởng bởi một chứng bệnh khác như:

5/ Nguyên nhân cao huyết áp do Trường vị thực nhiệt chứng: để lâu không chữa khỏi sau làm thành bệnh loét bao tử hoặc viêm loét ruột..

6/Nguyên nhân cao huyết áp do Tâm, Tâm bào thực nhiệt: sau thành bệnh viêm màng bao tim, bệnh mạch vành, bệnh đau thắt tim (angine ), nhồi máu cơ tim.

7/ Nguyên nhân cao huyết áp do Can vị nhiệt: sinh phong đờm hỏa làm hẹp động mạch gây tắc nghẽn tuần hoàn tim mạch.

8/ Nguyên nhân cao huyết áp do Tỳ thực, Vị suy: ăn nhiều, bao tử không chuyển hóa chất bổ thành khí huyết mà biến thành đờm làm tắc ống mạch (cholestérol nằm trong trường hợp này).

9/ Cao huyết áp do Viêm mũi: làm co dãn mạch bất thường, chỗ co chỗ dãn.

10/ Cao huyết áp do Tâm can hư: làm tim bị thòng, áp huyết cao thường xuyên trên 180/100 mmHg, nếu hạ áp huyết xuống 160/100 mmHg bệnh nhân cảm thấy mệt, vì đối với bệnh cao huyết áp mãn tính, áp huyết có khi tăng cao trên 220/100 mmHg.
11/ Cao huyết áp do Thận nhiệt: là một loại bệnh của Tiểu đường, hai gan bàn chân nóng cũng làm áp huyết tăng cao do Glucoza-huyết tăng.

12-Cao huyết áp do phong thấp: khi dùng thuốc, calci- huyết tăng làm suy thận, sạn thận.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *