Phương pháp Tác động cột sống – Lương y Nguyễn Tham Tán

Lương y Nguyễn Tham Tán

Quyển 1: Các phương thức chẩn bệnh của Tác động cột sống

Căn cứ vào tình hình cụ thể và đặc điểm của hệ cột sống, liên quan đến snh lý và bệnh lý của cơ thể. Thực hiện mục tiêu của phương pháp tác động cột sống đã đề ra về nghiên cứu và phát triển phương pháp: “Xác định và giải toả trọng điểm khu trú để nâng cao hiệu quả chữa bệnh”.

Để xác định và giải toả trọng điểm khu trú, để chuẩn và trị bệnh chính xác, phương pháp Tác động cột sống không áp dụng công thức hoá, đối với tất cả mọi người bệnh, mà chỉ áp dụng phương thức hoá để chuẩn và trị bệnh cho từng người bệnh cụ thể.

Các phương thức về chuẩn và trị bệnh của Tác động cột sống được hệ thống và biên soạn làm hai phần:
– Phần 1: Các phương thức chẩn bệnh.
– Phần 2: Các phương thức trị bệnh.

Phần 1: Tác động cột sống: Các phương thức chẩn bệnh

Nội dung của phương pháp tác động cột sống về chuẩn bệnh là thăm khám và xác định các bệnh tật có liên quan đến các đốt sống có trọng điểm khu trú.
Cơ sở để xác định trọng điểm khu trú, là sự biến đổi hai mặt đối lập của bốn đặc trưng khu trú ở trên hệ cột sống và ngoại vi. Để xác định mọi liên quan về mọi liên quan của hệ cột sống biến đổi tương ứng với bệnh tật bằng các phương thức sau:

1- Phương thức điều nhiệt.
2- Phương thức co cơ tương ứng
3- Phương thức đối động
4- Phương thức động hình
5- Phương thức chuyển tư thế.

1. Các phương thức chẩn bệnh của Tác động cột sống – Phương thức điều nhiệt

Phương thức điều nhiệt nhằm mục đích giới thiệu và chứng minh về mối liên quan mật thiết của thân nhiệt với các đốt sống bị biến đổi ở trên cơ thể người bệnh. Gồm có:

– Nhiệt độ da là cơ sở để xác định về sinh lý và bệnh lý của cơ thể
– Phương thức điều nhiệt là cơ sở để xác định cơ sở bệnh
– Phương thức điều nhiệt là cơ sở để tham dò tiên lượng bệnh
– Phương thức điều nhiệt là cơ sở để theo dõi sự biến triển của bệnh
– An toàn trung.

Phương pháp áp dụng:

1- Xác định về sinh lý và bệnh lý về thủ thuật Áp:

Trình tự thao tác
a- Tư thế người bệnh: tự do
b- Vị trí thao tác: Ngoài da
c- Xác định kết quả:
– Nếu có vùng nhiệt độ da biến đổi là cơ thể bệnh lý
– Nấu không có vùng nhiệt độ da biến đổi là cơ thể sinh lý.

2- Xác định trọng điểm khu trú bệnh bằng thủ thuật Áp và Miết:
Trình tự thao tác
a- Tư thế người bệnh: ngồi hoặc nằm
b- Vị trí thao tác:
– Bằng thủ thuật Áp nhấc ở vùng nhiệt độ địa phương
– Bằng thủ thuật Áp dê ở vùng nhiệt độ tương ứng nội tạng
– Bằng thủ thuật Miết thao tác ở đốt sống biến đổi
c- Các định kết quả
– Trong khi thao tác ở trên đốt sống, nếu thấy vùng nhiệt độ thay đổi, thì được xác định là vùng trọng điểm khu trú bệnh.
– Nếu khi thao tác, vùng nhiệt độ không thay đổi, thì không phải là vùng trọng điểm có bệnh khu trú.
3- Thăm dò tiên lượng bệnh bằng thủ thuật Áp Miết
Trình tự thao tác
a- Tư thế người bệnh: ngồi ngay, mặc áo sơmi ngược cài khuy sau
b- Vị trí thao tác:
– Bằng thủ thuật Áp, thao tác tại vùng có nhiệt độ biến đổi
– Bằng thủ thuật Miết, thao tác tại vị trí có đốt sống bị biến đổi
c- Xác định kết quả:
– Khi thao tác tại vị trí đốt sống bị biến đổi, nếu thấy vùng nhiệt độ thay đổi, thì dù sao vẫn giúp ích cho người bệnh, mặc dù là bệnh hiểm nghèo. Cũng không nên từ chối bệnh nhân.
– Nếu thấy nhiệt độ không có dấu hiệu thay đổi, thì tuyệt đối không được nhận điều trị
4- Theo dõi sự tiến triển của bệnh bằng thủ thuật Áp
Trình tự thao tác
a- Tư thế người bệnh: ngồi ngay, mặc áo sơmi ngược cài khuy sau
b- Vị trí thao tác: ở vùng nhiệt độ biến đổi
c- Xác định kết quả: Căn cứ vào sự thay đổi về nhiệt độ, để đánh giá về quá trình điều trị và tức thời thích ứng kịp thời về hướng điều trị
5- An toàn bằng thủ thuật Áp:Trong khi thao tác hoặc trong quá trình điều trị, đối với bệnh nhân, cần phải bảo đảm nhiệt độ sinh lý (Thời trị), bằng thay đổi theo chiều thuận, thì không bao giờ xẩy ra tai biến.

2. Các phương thức chẩn bệnh của Tác động cột sống –  Phương thức co cơ tương ứng

Phương thức co cơ tương ứng nhằm mục đích, xác định về hiện tượng cột sống biến đổi, liên quan đến chức năng vận động bị hạn chế. Được biểu hiện lên bằng hiện tượng co cơ ở trên cơ thể người bệnh, để làm cơ sở khi xác định vùng trọng điểm bệnh khu trú. Đồng thời, mô tả và chứng minh về hệ cột sống bị biến đổi có liên quan đến hệ thống gân cơ bị rối loạn – điển hình là hiện tương co cơ, biểu hiện lên ở trên cơ thể người bị bệnh, được xác định bằng tư thế vận động tối đa của hạn chế.
Để thực hiện mục đích trên, chúng ta có một trường hợp điển hình về: chức năng vận đông của chi trên bị hạn chế về dấu hiệu giơ cánh tay.
Phương pháp ứng dụng
Trình tự thao tác
a- Tư thế người bệnh: để hở lưng, hướng ra nơi có đủ ánh sáng, để quan sát bằng mắt, khi có sóng cơ xuất hiện, người bệnh đứng họăc ngồi tuỳ ý.
b- Vận động: hướng dẫn B/n giơ cánh tay lên đến mức tối đa của hạn chế, giơ lên giơ xuống liên tục
c- Quan sát: trong lúc B/n giơ cánh tay lên và buông xuống, ta quan sát bằng mắt, nhìn ở phía lưng sau, sẽ nhận thấy sóng cơ nổi cồn lên, và bám tận ở trên đốt sống bị biến đổi tương ứng
d- Thăm dò hiện tượng: bằng thủ thuật Miết, thao tác trên đốt sống bị biến đổi, sẽ cho ta thấy:
– Nhiệt độ khu trú nơi bị bệnh thay đổi
– Dấu hiệu hạn chế được cải thiện.
– Sóng cơ cồn giảm hoặc hết.
e- Xác định vị trí trọng điểm: đốt sống khi ta xác điịnh được ở trên, được coi là vị trí để xác định trọng điểm, bằng các thủ thuật và các nguyên tắc chuẩn bệnh, của phương pháp tác động cột sống.
Trên đây là phương thức để xác định về bệnh tật ở trên người bệnh cụ thể. Cho nên, về đốt sống biến đổi trên cơ thể người bệnh mỗi người một khác, do vậy không thể trở thành công thức hoá. Các đốt sống biến đổi liên quan tới tất cả các chức năng vận động bị hạn chế như: cổ, thân mình, chi trên và chi dưới, …

3. Các phương thức chẩn bệnh của Tác động cột sống – Phương thức động hình

Phương thức động hình nhằm mục đích, xác định về hiện tượng cột sống biến đổi, liên quan đến các “cảm giác đau” ở trên cơ thể người bệnh, để làm cơ sở cho xác định trọng điểm bệnh khu trú. Đồng thời chứng minh về hệ cột sống, bị biến đổi liên quan đến các cảm giác của cơ thể. Điển hình là cảm giác đau, được biểu hiện trên cơ thể B/n, được xác định bằng thủ thuật “bật” tại điểm đau khu trú.
Để thực hiện mục đích này, một trường hợp điển hình về: cảm giác đau gân Asin trong bệnh đau giây thần kinh hông to.
Phương pháp ứng dụng
Trình tự thao tác
a- Chuẩn bị: b/n nằm sấp để hở toàn bộ cột sống, từ cổ cho tới xương cụt, b/n nằm sấp buông trùng gân cơ, nơi có đủ ánh sáng, khi có sóng cảm giác và sáng cơ động hình xuất hiện.
b- Thao tác: thầy thuốc áp dụng thủ thuật “bật” bằng ngón tay cái, bật trượt ở trên gân Asin, và tạo một cảm giác đau đột ngột cho người bệnh
c- Quan sát: trong khi thao tác tạo cảm giác đau đột ngột tại ổ bệnh, B/n sẽ giật mình gây co và giật. Lúc này, ta quan sát bằng mắt ở trên cột sống và cơ lưng, ta sẽ nhận thấy sóng cơ gợn lên ở cơ lưng và bám tận cùng, ở trên đốt sống bị biến đổi tương ứng. Chính đốt sống này, là đốt sống có trọng điểm khu trú, liên quan đến cảm giác đau của ổ bệnh. Khả năng di chuyển của da bị giảm đi, tăng tính co cứng, ấn đau tại chỗ.
d- Thăm dò hiện tượng: áp dụng thủ thuật “Miết”, thăn dò trên đốt sống bị biến đổi sẽ cho ta thấy:
– Nhiệt độ tại khu vực ổ bệnh thay đổi
– Cảm giác đau của ổ bệnh được cải thiện, sóng cơ gợn lên ở cơ lưng hết.
e- Vị trí xác định trọng điểm: đốt sống trên đây được coi là vị trí để xác định trọng điểm bằng các thủ thuật, các nguyên tắc chuẩn bệnh của phương pháp tác động cột sống.
Trên đây là phương thức để xác định về bệnh tật ở trên người bệnh cụ thể. Cho nên, về đốt sống biến đổi trên cơ thể của mỗi người bệnh mỗi khác, không trùng hợp thành công thức hoá.

4. Các phương thức chẩn bệnh của Tác động cột sống – Phương thức đối động

Phương thức đối động trong phương pháp chuẩn bệnh, nhằm mục đích xác định về mối liên quan của trọng điểm khu trú bệnh với ngoại vi, để làm cơ sở cho quy nạp chuẩn đoán bệnh, đưa ra phương hướng điều trị. Phương thức đối động chứng minh về hệ gân cơ bị sơ co khu trú tại đốt sống biến đổi, không chỉ khu chú ở phạm vi đốt sống, mà còn lan toả rộng rãi đến toàn cơ thể. (Tham khảo thêm sách: Y học bằng tay – của Gs Fỉii Dvorák và Bs Vac Dvorák do Bs Lê Vinh dịch – Nhà Xuất bản Y học)
Đặc trưng của hiện tượng này là: các sợi gân xơ co khu trú ở trên trọng điểm và lan toả ra ngoại vi cùng các đốt sống liên quan. Cơ sở để xác định mối liên quan này là máy động của hai vị trí liên quan song song biểu hiện lên – Xác định bằng thủ thuật Miết khi thao tác song chỉnh
Vị trí khu trú:
– Trọng điểm thuộc loại lệch, hay lồi lệch, thì vị trí liên quan biểu hiện lên ở các bên cùng tiết đoạn, với trọng điểm khu trú ở cơ lưng và hệ cột sống.
– Trọng điểm thuộc loại lồi, thì chỉ liên quan đến đốt sống vùng, trong phạm vi hoạt đông sinh lý, không lan toả ra ngoại vi.
Phương pháp ứng dụng
a- Chuẩn bị: người bệnh để hở lưng
b- Tư thê: nằm sấp trùng gân cơ.
c- Vị trí xác định: là trọng điểm hay là ngoại vi hoặc là đốt sống liên quan.
d- Thủ thuật thao tác: thủ thuật Miết, hoặc thủ thuật song chỉnh
e- Kết quả: khi thao tác ở điểm A thì điểm B có máy động. Khi thao tác ở tại điểm B thì điểm A cũng có máy động. Như thế được coi là đối động.
Điểm đối động trên còn được phối hợp với trọng điểm khu trú để quy nạp và chuẩn đoán bệnh. Áp dụng phương pháp song chỉnh để giải toả ổ bệnh gồm có các mối liên quan: của trọng điểm khu trú với toàn bộ kết cấu hệ đốt sống (A), cùng là trọng điểm khu trú với lớp cơ ngoại vi.
A- Mối liên quan của trọng điểm khu trú với đốt sống
– Trọng điểm thuộc loại lồi, thì điểm đối động liên quan khu trú ở giữa đốt sống
– Trọng điểm thuộc loại lệch, lồi lệch, thì điểm đối động liên quan khu trú ở cạnh đốt sống khác bên với trọng điểm khu trú.
– Chi tiết như sau:
1- Trọng điểm khu trú ở vùng đầu và C1 – C2. Điểm đối động ở vùng cùng và vùng xương cùng cụt.
2- Trọng điểm khu trú ở C3 – Điểm đối động khu trú ở L5
3- Trọng điểm khu trú ở C4 – Điểm đối động khu trú ở L4
4- Trọng điểm khu trú ở C5 – Điểm đối động khu trú ở L3
5- Trọng điểm khu trú ở C6 – Điểm đối động khu trú ở L2
6- Trọng điểm khu trú ở C7 – Điểm đối động ở L1
7- Trọng điểm khu trú ở D1 – Điểm đối động khu trú ở D12
8- Trọng điểm khu trú ở D2 – Điểm đối động khu trú ở D11
9- Trọng điểm khu trú ở D3 – Điểm đối động khu trú ở D10
10- Trọng điểm khu trú ở D4 – Điểm đối động khu trú ở D9
11- Trọng điểm khu trú ở D5 – Điểm đối động khu trú ở D8
12- Trọng điểm khu trú ở D6 – Điểm đối động khu trú ở D7
B- Mối liên quan của trọng điểm với ngoại vi
Trọng điểm thuộc loại lồi thì không liên quan tới ngoại vi. Chúng ta chỉ quan tâm tới loại lệch. Trọng điểm của loại lệch, thì bao giờ cũng biểu hiện ở khác bên, ví như trọng điểm ở bên phải thì mối liên quan ở bên trái, và ngược lại. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, mà điểm đối động liên quan này, có thể khu trú như: ngang, chếch lên trên, chếch xuống dưới, chéo xuống dưới.

5. Các phương thức chẩn bệnh của Tác động cột sống – Phương thức chuyển tư thế

Chuyển tư thế là một phương thức áp dụng hình thức chuyển động thân thể, ví như cúi, ngửa, nghiêng trái, nghiêng phải; nhằm mục đích xác định về sự vận động của hệ cột sống bị hạn chế, đồng thời xác định được sự biến đổi của lớp cơ đệm; để làm cơ sở cho phân loại trọng điểm khu trú bệnh để quy nạp, chuẩn đoán, đề ra hướng điểu trị.
Căn cứ vào tình hình cụ thể, hệ cột sống chia làm hai vùng: 1- Vùng cổ, 2- Vùng thân mình.
Để áp dụng các nguyên tắc, các phương thức, và các thủ thuật chuẩn bệnh để thao tác, xác định, trình tự được mô tả như sau:
1- Xác định về vùng cổ bị biến đổi: có những biểu hiện lên các dấu hiệu sau:
– Về các đốt sống cổ bị hạn chế vận động (từ C1 ==> C7)
– Lớp cơ đệm trên đốt sống cổ bị xơ co.
– Lớp xơ cổ lan toả bị xơ co.
Phương pháp ứng dụng
a- Chuẩn bị: tự do
b- Tư thế người bệnh: ngồi ngay, tay buông thõng.
c- Thao tác:
1- Hướng người bệnh cúi gập đầu
– Xác định đốt sống biến đổi hướng ra trước, bằng thủ thuật Vuốt – Vê.
– Xác định lớp cơ đệm biểu hiện lên bị xơ co, bằng thủ thuật Vuốt – Vê
– Xác định lớp cơ xơ co lan toả co, bằng thủ thuật Vuốt – Vê:
+ Trên: từ khe bờ chẩm vùng đầu
+ Dưới: từ C7 lan sang hai cơ vai trước
+ Ngang: từ bờ ngoài cơ ức đòn chũm trở vào phía bờ trong cơ thang
Tất cả các lớp cơ thuộc vùng trên, dưới và ngang, đều áp dụng bằng thủ thuật Vuốt _ Vê.
2- Hướng người bệng ngửa cổ ra trước:
– Xác định đốt sống cổ biến đổi hướng sau bằng thủ thuật vuốt vê
– Xác định lớp cơ đệm bị xơ, co, cộm, dày, bằng thủ thuật Vuốt – Vê
– Xác định lớp cơ lan toả bị co, cộm, dày, khu trú ở vùng cổ, băng thủ thuật vuốt vê:
+ Trên: từ khe bờ xương chẩm vùng đầu đến góc chũm
+ Dưới: từ C7 ngang sang hai cơ vai trước
+ Ngang: tư bờ ngoài cơ ức đòn chũm (từ góc chũm xuống đến đòn, cho đến bờ trong cơ thang)
Tất cả các vùng cơ lan toả trên đây, đều áp dụng bằng thủ thuật Vuốt – Vê.
3- Xác định người bệnh ngồi nghiêng (phải hoặc trái)
– Xác định đốt sống biến đổi hướng phải hoặc trái bằng thủ thuật vuốt – vê
– Xác định cơ đệm bị xơ, co, cộm, dày ở bên phải hay bên trái (phía khác bên sẽ bị nhược mềm) bằng thủ thuật vuốt – vê
Vị trí để xác định về hiện tượng mất đối xứng giữa bên phải và bên trái của lớp cơ cổ – ở phần trên, phần giữa, và phần dưới, về danh giới của từng phần được hướng dẫn trên thực tế.
2- Xác định về vùng thân mình biến đổi:
Vùng thân mình từ hai vai đến vùng hông háng khi bị biến đổi, thường biểu hiện lên các dấu hiệu, bằng các hiện tượng không bình thường. Bằng phương thức chuyển tư thế, ta có thể quan sát bằng mắt thường, hoặc bằng các thủ thuật chuẩn bệnh để xác định. Các vùng để xác định về sự bình thường và mất bình thường bằng phương thức chuyển tư thế gồm:
– Hệ cột sống: xác định về dấu hiệu vận động
– Lớp cơ đệm: xác định về tình trạng lớp co cơ
– Lớp cơ lan toả: xác định về hiện tượng xơ co mất cân đối, mất cân bằng (trên, dưới, phải, trái)
Phương pháp ứng dụng: trình tự thao tác: thủ thuật vuốt – ấn – vê.
a- Chuẩn bị: người bệnh cởi áo để hở lưng
b- Tư thế người bệnh: tuỳ thuộc vào yêu cầu cần xác định mà có thể ngồi hoặc đứng
– Tháo tác: theo hướng cúi – ngửa – nghiêng
1- Hướng người bệnh ngồi cúi khom lưng:
– Xác định các đốt sống từ D1 đến vùng cụt, có hình thái hướng ra trước (lõm, đơn hoặc liên) và sự chuyển động của đốt sống bị hạn chế
– Xác định lớp cơ đệm ở đầu đốt sống biến đổi
– Xác định lớp cơ lan toả bị co cộm, xơ sợi, hoặc teo nhược, tương ứng với đốt sống biến đổi, khu trú ở hai bên cơ lưng, từ hai vai cho đến hết vùng hông.
2- Hướng người bệnh ngồi ngửa người
– Xác định cột sống từ D1 đến cùng cụt có hình thái hướng ra sau (lồi, đơn hoặc liên)
– Xác định lớp cơ đệm ở trên đầu gai sống bị biến đổi để xác định về hình thái lớp cơ đệm bệnh lý
– Xác định lớp cơ lan toả bị co cộm, xơ sợi hoặc teo nhược tương ứng với đốt sống biến đổi, khu trú từ hai bờ vai, hai bên cơ lưng, xuống đến tần cùng vùng mông.
3- Hướng người bệnh ngồi nghiêng người (phải hoặc trái)
– Xác định cột sống từ D1 đến vùng cụt có hình thái hướng sang phải, hoặc sang trái (lệch phải hay lệch trái) (đơn hay liên), và sự chuyển động của đốt sống đó bị hạn chế
– Xác định lớp cơ đệm ở trên đầu gai sống bị biến đổi (lệch phải hay trái) để xác định về hình thái lớp cơ đệm bệnh lý.
– Xác định lớp cơ lan toả bị co cộm, xơ sợi hoặc teo nhược, biểu hiện lên từ cơ vai trở xuống đến vùng mông cùng cụt, tương ứng với đốt sống biến đổi phải hay trái, bằng thủ thuật vuốt – ấn – vê.

(tacdongcotsong.info)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *