Phương pháp tác động cột sống – Nhiệt độ da

Bài viết thuộc phần 3 trong Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam – Tài liệu bản gốc – Hà nội 9- 1991 -Tác giả:  Lương Y Nguyễn Tham Tán (1915-2000)

III.Nhiệt độ da

Nhiệt độ da các vùng cơ thể và những sự thay đổi về nhiệt độ da trong tình trạng bệnh lý

Phương pháp Tác động cột sống coi nhiệt độ da các vùng cơ thể bình thường là sự biểu hiện của cơ thể lành mạnh, và nhiệt độ không bình thường là biểu hiện cơ thể đang ở trong tình trạng bệnh lí.
Khi cơ thể có bệnh, nhiệt độ da biểu hiện ba trạng thái cao, thấp hay rối loạn.

Các đốt da

III.1 – Nhiệt độ da ở cơ thể khỏe mạnh

Nhiệt độ da của cơ thể bình thường được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao theo từng vùng như sau:
1 Vách mũi, ngón chân cái Trung bình 25 – 28 độ C
2 Ngón tay trỏ
3 Mu bàn chân
4 Cổ chân
5 Mu bàn tay, thắt lưng
6 Bắp chân
7 Cẳng tay
8 Cơ mông
9 Cổ tay
10 Lưng, vai, cánh tay
11 Ngực, bụng
12 Trán, gò, má
13 Cổ, gáy
14 Vùng nách, dưới lưỡi, hậu môn, Trung bình 36,9 độ C

Nhiệt độ da ở cơ thể khỏe mạnh có thể thay đổi tạm thời trong các trường hợp lao động, nghỉ ngơi, có sự thay đổi đột ngột về tâm lý (buồn, lo sợ, suy nghĩ, tức giận …) tùy tình trạng cơ thể (đói, no…) tùy theo thời gian sáng, trưa, tối, tùy theo mùa mà có thể có những thay đổi khác nhau ở từng cá thể con người, tùy theo vị trí và các bộ phận cơ thể.
Những trường hợp thay đổi nhiệt độ da tức thời như đã nói ở trên thường nhiệt độ ấy không kéo dài và vẫn được coi là nhiệt đố sinh lí bình thường.

Chẳng hạn khi người mẹ đang cho con bú thì nhiệt độ vùng vai phải và vùng thắt lưng nóng cao. Khi con ngừng bú thì nhiệt độ trở lại bình thường. Hiện tượng này được coi là hoạt động sinh lí bình thường mà không phải là hiện tượng bệnh lí.
Phương pháp Tác động Cột sống coi nhiệt độ da là cơ sở cơ bản để chẩn bệnh và theo dõi trong khi trị bệnh nên đã chia nhiệt độ da ở tình trạng bệnh lí thành ba lĩnh vực:

A- Nhiệt độ trọng khu – trọng điểm:
là nhiệt độ trên phạm vi cột sống trong phạm vi có ổ rối loạn.

B- Nhiệt độ vùng tương ứng với nội tạng chia ra 11 vùng:
1. Vùng cổ, vai, ngực trái Liên quan đến chức năng tim mạch
2. Vùng cổ phải Liên quan đến chức năng hô hâp
3. Vùng dưới vú phải Liên quan đến chức năng gan
4. Vùng vai phải Liên quan đến chức năng mật
5. Vùng mỏ ác Liên quan đến chức năng dạ dày
6. Vùng lung giữa Liên quan đến chức năng lá lách, các tuyến nội tiết, tuyến tụy, tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận.
7. Vùng thắt lưng bên phải Liên quan đến chức năng thận
8. Vùng khe mông Liên quan đến chức năng tử cung, vòi trứng
9. Vùng bụng non Liên quan đến chức năng bang quang, tiết niệu
10. Vùng trước rốn Liên quan đến chức năng ruột non
11. Vùng chẩm Liên quan đến chức năng ruột già, trực tràng

C- Nhiệt độ địa phương được chia ra 14 vùng sắp xếp theo nhiệt độ sinh lí lúc bình thường từ thấp đến cao nhất để làm nhiệt độ chuẩn so sánh với nhiệt độ bệnh lí. (Xem bảng nhiệt độ da của cơ thể khỏe mạnh)

III.2 Nhiệt độ da thay đổi do tình trạng bệnh lí

Khi trong cơ thể có bệnh thì nhiệt độ da có thể biểu hiện:
1. Nhiệt độ da cao hơn bình thường
2. Nhiệt độ da thấp hơn bình thường
3. Nhiệt độ da rối loạn
1/ Nhiệt độ da cao hơn bình thường
Nhiệt độ da cao hơn bình thường có thể biểu hiện:
a) Nhiệt độ da cao toàn thân: Khi áp dụng thủ thuật Áp thấy không có vùng nào ở nhiệt độ bình thường (Thông thường biểu hiện khi người bệnh sốt cao).
b) Nhiệt độ da cao ở từng vùng nhất định: Nhiệt độ da cao hoặc không ổn định thường biểu hiện ở 3 nơi:
– Trên cột sống ở vùng đốt sống lồi.
– Ở hai bên cơ lưng có hiện tượng co, cộm, phù…
– Ở từng vùng ngoài thân mình (đầu, mặt, cổ, chân).

nhieet-do-tac-dong-cto-song

2/ Nhiệt độ da thấp hơn bình thường

Nhiệt độ da thấp hơn bình thường có thể biểu hiện:
a) Toàn thân nhiệt độ da thấp: Khi áp dụng thủ thuật Áp tại các vùng da trên cơ thể thấy có cảm giác lạnh hoặc lạnh ngắt.
b) Nhiệt độ da thấp thể hiện từng vùng nhất định: Nhiệt độ da thấp hoặc không ổn định thường biểu hiện ở 3 nơi:
– Trên cột sống ở vùng đốt sống lõm
– Ở hai bên cơ lưng tại các cơ có trạng thái mềm duỗi
– Từng vùng nhiệt độ da thấp có liên quan đến bệnh tật thuộc nội tạng và các bộ phận cơ thể tương ứng
Hiện tượng nhiệt độ da thấp có thể rộng hẹp tùy theo hiện tích khuyết tật của cột sống và diện tích của các cơ mềm duỗi trên cơ lưng.

3/ Hiện tượng nhiệt độ da rối loạn:

Hiện tượng nhiệt độ da rối loạn là có những vùng nhiệt độ da cao trong lúc đó có những vùng nhiệt độ da thấp, lại có những vùng nhiệt độ da ổn định trên cùng cơ thể một người bệnh.
Biểu hiện của sự rối loạn này thường đối xứng theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc trên dưới.
a) Nhiệt độ da rối loạn ở hai bên cột sống: một bên có nhiệt độ da cao, một bên nhiệt độ da thấp có liên quan đến tật của đốt sống lồi và tình trạng các cơ: da nhiệt cao xuất hiện ở đốt sống lồi và vùng cơ co cứng, da nhiệt thấp xuất hiện ở đốt sống khuyết và vùng cơ mềm duỗi.
b) Nhiệt độ da rối loạn đối xứng trên dưới: thông thường khi vùng trên có nhiệt độ da cao thì vùng dưới có nhiệt độ da thấp. Hiện tượng da nhiệt cao cũng có ở các đốt sống lồi và lớp cơ co cứng, và nhiệt độ thấp có ở các đốt sống lõm và khuyết, các lớp cơ mềm duỗi như đã nói ở trên.

KẾT LUẬN
Hiện tượng thay đổi nhiệt độ da có liên quan chặt chẽ tới:
– Tổn thương cột sống.
– Tình trạng cứng, mềm của lớp cơ.
– Tật bệnh ở các phủ tạng và các bộ phận cơ thể cũng có ảnh hưởng đến nhiệt độ da của từng vùng tương ứng.

ĐẶC TÍNH CỦA NHIỆT ĐỘ DA
Nhiệt độ da giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong chẩn và trị bệnh theo Phương pháp Tác động cột sống. Bởi vậy, thủ thuật đầu tiên được ứng dụng là thủ thuật ÁP để tìm nhiệt độ trọng khu và trọng điểm, nhiệt độ vùng tương ứng nội tạng, qua đó ứng dụng các thủ thuật khác để xác định chính xác trọng điểm để điều trị (giải tỏa).
Cơ sở để so sánh là nhiệt độ sinh lí bình thường của từng vùng nhiệt độ da trên cơ thể con người.
Vì vậy trong khi điều trị bằng Phương pháp Tác động cột sống, người thầy thuốc phải chú trọng tới những đặc tính sau đây về nhiệt độ da trên cơ thể người bệnh:

1/ Chỉ khi cơ thể có bệnh thì nhiệt độ sinh lí mới thay đổi.
Phương pháp Tác động cột sống phân biệt nhiệt độ địa phương, nhiệt độ trọng khu – trọng điểm, và nhiệt độ vùng tương ứng nội tạng. (Xem phần trên về nhiệt độ)
Căn cứ vào đặc tính này, Phương pháp Tác động cột sống chẩn bệnh nhanh và chính xác vì thầy thuốc có cơ sở là nhiệt độ da để kiểm tra lời kể bệnh, mà không có lời kể bệnh thì thầy thuốc căn cứ vào nhiệt độ da biến đổi vẫn chẩn bệnh được chính xác.

2/ Nhiệt độ da biến đối rất nhậy trên cơ thể người bệnh trong khi thao tác trị bệnh.
Cụ thể là trên cùng một người bệnh, có lần thầy thuốc mới chỉ tác động độ 2, 3 giây đồng hồ thì nhiệt độ cơ thể đã có thay đổi, nhưng cũng có lần tác động đến 20 hay 30 giây mới có phản xạ báo đến ngưỡng định lượng mà cơ thể người bệnh có thể tiếp nhận được.

3/ Nhiệt độ da biến đổi không phụ thuộc vào ngưỡng tiếp nhận định lượng của cơ thể người bệnh.
Căn cứ vào đặc tính này, người thầy thuốc phải chú ý tới hai trường hợp sau:
a) Khi tác động đúng trọng điểm, nhiệt độ da có biến đổi nhưng chưa đến ngưỡng của định lượng thì phải chẩn để tìm trọng điểm mới, tiếp tục điều trị cho đến ngưỡng của định lượng mới ngừng thao tác.
b) Mặc dầu nhiệt độ da đã biến đổi nhưng chưa giải tỏa hoàn toàn được ổ bệnh mà cơ thể người bệnh đã có phản xạ đến ngưỡng định lượng thì vẫn phải ngừng thao tác, chờ đến lần điều trị sau.

4/ Nhiệt độ da biến đổi thuận chiều khi thao tác bệnh đúng trọng điểm.
Trong khi thao tác trị bệnh, thầy thuốc thường xuyên phải thăm dò nhiệt độ tại những vùng có nhiệt độ bệnh lí. Biến đổi thuận chiều có nghĩa là nhiệt độ bệnh lí nếu cao hơn nhiệt độ sinh lí bình thường thì trong quá trình điều trị nhiệt độ sẽ hạ dần đến mức nhiệt độ sinh lí bình thường (chẳng hạn trong khi chữa bệnh huyết áp cao); hoặc là nhiệt độ bệnh lí thấp hơn nhiệt độ bình thường thì trong quá trình điều trị nhiệt độ sẽ tăng dần lên đến mức nhiệt độ sinh lí bình thường (chẳng hạn trên những lớp cơ teo nhược). Nhiệt độ biến đổi thuận chiều chứng minh rằng ta đã tác động đúng trọng điểm, nguyên tắc, phương thức và thủ thuật.

5/ Nhiệt độ chỉ chở lại bình thường khi ổ rối loạn đã được giải tỏa hoàn toàn.
Sau khi thao tác, khi thăm dò thấy nhiệt độ đã trở lại đúng nhiệt độ sinh lí bình thường là ổ rối loạn đã hết rối loạn, chẳng hạn như trên cơ thể người mẹ mất sữa, hoặc trên bệnh nhân hen, thầy thuốc rất dễ nhận biết sự thay đổi nhậy bén trong khi thao tác trị bệnh.
Căn cứ vào những đặc tính trên đây của nhiệt độ da, Phương pháp Tác động cột sống quy định một nguyên tắc quan trọng trong khi trị bệnh:

IV- CẢM GIÁC

Cơ thể con người có nhiều cảm giác khác nhau nhưng Phương pháp Tác động cột sống chỉ căn cứ vào giác đau tăng hoặc giảm trên hệ cột sống để làm cơ sở chuẩn đoán và trị bệnh.
Bởi vậy sự bình thường và mất bình thường về cảm giác trên hệ cột sống là một trong bốn đặc trưng để xác định về sinh lí và bênh lý của cơ thể.
Phương pháp tác động cột sống lại phân biệt cảm giác đau tăng hoặc giảm thành hai dạng khác nhau:

Đặc tính nhiệt độ da

1/ Cảm giác đau khu trú ở một vùng nhất định trên cột sống mà người bệnh tự nhận biết được gọi là cảm giác đau bệnh lí.

2/ Cảm giác đau trên cột sống mà người bệnh chỉ nhận biết được khi thầy thuốc dùng thủ thuật tác động đúng vị trí đó gọi là cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí.
Cảm giác đau bênh lý là cảm giác đau thuộc về bệnh của cột sống như: cột sống có hình gai đôi, cột sống vôi hóa hay thoái hóa, trượt đĩa đệm, trật khớp, viêm cột sống dính khớp và nhiều trường hợp khác nữa.

Cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí là hiện tượng có liên quan đến bệnh lí của các cơ quan nội tạng và mọi bộ phận cơ thể
Trong khi chuẩn bệnh, phương pháp Tác động cột sống còn chú ý tới mối liên quan của cảm giác đau hoặc cảm giác giảm với các đặc trưng bệnh lí,
Các đặc trưng bệnh lí gồm có sư biến đổi về các đốt xương sống, lớp cơ đệm, nhiệt độ và cảm giác như sau:
1/ Trên các đốt sống Lồi, Lồi Lệch và Lệch thì ở nơi cao nhất hoặc lêch nhất trên đầu gai sống biểu hiện lớp cơ co cộm, nhiệt độ nóng cao. Khi đặt ngón tay tác động trên lớp cơ co thì người bệnh có cảm giác đau tăng.
2/ Trên các đốt sống Lõm hoặc Lõm Lệch thì ở nơi lõm sâu nhất trên đầu gai sống biểu hiện lơp cơ teo nhược, nhiệt độ thấp và cảm giác giảm. Khi dùng thủ thuật tác động tại chỗ đó thì người bệnh cũng không nhận biết được rõ ràng về cảm giác đau

ỨNG DỤNG CẢM GIÁC ĐAU TRONG CHẨN BỆNH VÀ TRỊ BỆNH
Ở đây chúng tôi muốn nhắc lại rằng khi cơ thể người bệnh có cảm giác đau mỏi, bạc nhược thì bao giờ trên hệ cột sống cũng biểu hiện cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí, tức cảm giác đau khi có tác động bằng thủ thuật.
Phương pháp Tác động cột sống căn cứ vào tính chất đau của cảm giác để chẩn đoán bệnh.

Thủ thuật tác động cột sống
Tính chất đau:
Cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí thường khu trú trên một diện rộng, có thể từ một đến nhiều đốt liền nhau nhưng trong đó bao giờ cũng phải có một điểm nhỏ có cảm giác đau nhất. Điểm đau này thầy thuốc có thể nhận biết được bằng sự phản ứng của cơ thể người bệnh như giật thót mình, hoặc phản ứng của hệ cột sống như oằn lún lưng, cong gù lưng, hoặc vặn vẹo qua phải hay qua trái v..v..

Điểm đau nhất này được coi là trung tâm của hiện tượng bệnh lí khu trú ở trên hệ cột sống mà phương pháp Tác động quy định là trọng điểm. Trọng điểm được coi như là căn cứ để chẩn đoán quy nạp mối liên quan của các bộ phận của cơ thể bị rối loạn vì có liên quan với các đặc trưng bệnh lí: lớp cơ co dầy nhất, đốt sống lồi, lệch nhất, nhiệt độ cao nhất.
Điểm đau của hiện tượng bệnh lí là một đặc điểm không chỉ riêng khu trú ở trọng điểm trên hệ cột sống mà còn biểu hiện ở nhiều khu vực khác nữa, cụ thể như:

1/ Khi ta đã phát hiện trên hệ cột sống có điểm đau thường khu trú trên những đốt sống Lồi bệnh lí thì ngay trên hệ cột sống cũng có điểm đau liên quan ở phía trên hoặc phía dưới điểm đau ấy.

2/ Khi ta phát hiện trên hệ cột sống có điểm đau trên những đốt sống Lồi Lệch và Lệch thì ngoài phạm vi cột sống cũng có điểm đau khu trú hoặc ở gần, hoặc ở xa cột sống, tương ứng với trọng điểm gọi là điểm đối động. Những điểm đau ở ngoài phạm vi cột sống này thường khu trú ở vị trí khác nhau theo độ ngang, chếch chéo lên hoặc chéo xuống, có nhiều trường hợp chạy lan vòng quanh thân mình ra phía trước, tận cùng ở bờ xương ức, xương mu hoặc xương chậu phía bên kia.
Những điểm đối động này thường liên quan với lớp cơ co gợn, dai chắc và cũng là cơ sở để quy nạp chẩn đoán bệnh theo phương thức đối động.

ĐẶC TÍNH VỀ CẢM GIÁC
Phương pháp Tác động cột sống căn cứ vào cảm giác đau hoặc cảm giác giảm trên hệ cột sống người bệnh để chẩn và trị bệnh, chủ yếu là cảm giác đau của hiện tượng bệnh lí, nghĩa là cảm giác đau khi thầy thuốc tác động bằng thủ thuật tại trọng điểm.
Đặc tính của cám giác trong quá trình điều trị là:

1/ Khi thầy thuốc tác động tại trọng điểm người bệnh cảm thấy đau nhưng dễ chịu và trong quá trình thao tác trị bệnh, người bệnh cảm thấy bớt đau dần, từ đau nhiều đến đau ít, và khi hết đau là lúc ổ bệnh được giải tỏa.

2/ Cảm giác đau cùng với nhiệt độ cao biểu hiện trên đốt sống Lồi bệnh lí và điểm đau liên quan ở trên hoặc dưới trọng điểm, cùng bên với trọng điểm.

3/ Cảm giác đau cùng với nhiệt độ cao biểu hiện trên đốt sống Lồi Lệch hoặc Lệch bệnh lí và điểm đối động gần hoặc xa, khác bên với trọng điểm.

4/ Cảm giác tê biểu hiện khác bên với trọng điểm.

5/ Cảm giác giảm cùng với nhiệt độ thấp biểu hiện trên đốt sống Lõm hoặc Lõm Lệch
Căn cứ vào đặc tính của cảm giác nói trên, phương pháp Tác động cột sống quy định trong quá trình thao tác, nếu người bệnh cảm thấy đau tăng và khó chịu thì phải ngừng ngay thao tác, vì như vậy thao tác chưa đúng trọng điểm (chẳng hạn tác động đúng mỏ gai đôi là điểm đau bệnh lí, trong khi phương pháp Tác động cột sống nhằm giải tỏa điểm đau của hiện tượng bệnh lí).

Mời bạn tham khảo Clip, hy vọng nó sẽ giúp chúng ta trở thành những chuyên gia có ý nghĩa.
https://www.youtube.com/watch?v=aYOa-B5LA1U

ThS – LY Nguyễn Đình Thảo (Thảo Sen Nam)
sennam.thao@gmail.com Điện thoại: 0918 260 196
FB: Tác động cột sống Việt Nam

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *