Quan niệm mới về cấu trúc huyệt

Huyệt có khả năng thu nhận, dẫn truyền sóng rung ,bức xạ, âm thanh, từ trường, điện từ trường, các tia sáng, tia ion, hồng ngoại, tử ngoại ,tia gamma, alpha, béta,..Như vậy huyệt vừa là những con chip thuộc cấu trúc phần cứng của một máy điện toán, nhìn thấy được, nhưng huyệt làm ra được nhiều chức năng thuộc phần mềm được ghi trên desktop trong đó có nhiều chương trình hoạt động khác nhau, muốn khai thác sử dụng nó phải tùy vào trình độ hiểu biết của người sử dụng. Cho đến ngày nay, con người vẫn còn tìm hiểu, khám phá, bổ sung những khả năng kỳ diệu vô tận của máy điện toán, cũng như khả năng vô tận của cách phối hợp huyệt qua cách truyền khí công. Điều quan trọng là chúng ta thực sự có năng lượng hay không. ( tập võ thuật khác với tập nạp năng lượng, người có năng lượng không cần phải biết võ thuật, ngườI biết võ thuật chưa hẳn là người có năng lượng để chữa bệnh cho người khác ).

Nếu huyệt được hiểu theo cấu trúc máy điện toán, thì xương cốt, da thịt, tạng phủ, những cái thấy được là phần cứng, hệ thống kinh mạch huyệt đạo thuộc phần huyết nằm trên phần cứng, là đường kinh vật chất định hình, là những đường dây điện và những con chip, còn kinh mạch huyệt đạo thuộc phần khí nằm trên phần mềm ký gửi ở đĩa C, là đường kinh vật chất vô định hình và là bộ óc của máy điện toán giống như bộ óc con người.

Nhờ quan niệm mới về cấu trúc huyệt, thì ngoài những thảo chương cho bộ máy con người là hệ thống âm dương ngũ hành và kinh mạch tạng phủ dùng trong chữa bệnh của đông y, còn có thảo chương khác cũng tác động vào đại huyệt để tập yoga tăng cường sức khỏe, có thảo chương khác để mở các luân xa, thảo chương phát triển thu phát sóng nghe được âm thanh của người ở xa hay của thế giới khác, hoặc phát triển được khả năng nhìn xa, nhìn qua vật cản, nhìn thấy chữ viết trong bao thư dán kín, khả năng phóng những bức xạ hoặc sóng rung để chữa bệnh tầm xa.. những khả năng thần thông như thế cũng đã thành sự thật ,đều do khả năng kỳ diệu của huyệt làm ra.

HUYỆT ở một vị trí nhất định trên cùng một đìểm của đường kinh, nhưng tùy theo trình độ của thầy chữa bệnh, sẽ tạo phản ứng cho những kết qủa khác nhau, vì huyệt có những tính chất sau đây :

1- Huyệt là điểm nhạy cảm có sẵn trên cơ thể con người và có khả năng thu phát dẫn truyền đa dạng :
– Có thể theo khả năng cơ học thuộc kinh mạch huyệt đạo của đông y châm cứu, khả năng chữa bệnh tùy theo thầy thuốc áp dụng đơn huyệt hay phối hợp huyệt.
-Có khả năng tạo bức xạ nhiệt trực tiếp được chỉ huy bởi bộ óc thí dụ như do tập thiền, tập khí công, tập yoga ( ý ở đâu, khí ở đó, khí ở đâu thì huyết ở đó, khi huyết chạy nhanh và mạnh, sự ma xát va chạm các phân tử ion tạo ra năng lượng nhiệt đến theo ).
-Có thể tạo bức xạ hàn gián tiếp, nghĩ đến một huyệt ,huyệt truyền tải tín hiệu lên óc chuyển đổi khí thành hàn làm cho cơ thể đang nóng thành lạnh.
-Có thể nhận bức xạ nhiệt được truyền từ ngoài vào như hơ cứu huyệt, hay nhận bức xạ nhiệt từ bàn tay của người có khí công, yoga áp đặt vào trực tiếp, hay được phóng từ xa có thể rất xa từ địa phương này đến địa phương khác.
-Có thể nhận bức xạ nhiệt hay hàn được truyền từ bàn tay của người có khí công, có khả năng phóng tia hồng quang tạo bức xạ nhiệt hoặc tia bạch quang tạo bức xạ hàn để chữa bệnh hàn nhiệt trong cơ thể. Huyệt cũng có tính chất thẩm thấu khí hậu, thờI tiết, môi trường chung quanh vào các lỗ chân lông và thấm qua các huyệt bảo vệ cơ thể như huyệt Phong môn, Phong trì, Phế du. Nếu chân khí mạnh, các huyệt này sẽ phong tỏa không cho tà khí xâm nhập sâu vào cơ thể, sau đó tà khí được hóa giải, nếu chân khí suy yếu, tà khí sẽ thấm sâu vào cơ thể làm ra bệnh.

2- Huyệt nằm trên đường kinh là cơ sở vật chất thấy được là những sợi thần kinh, gân máu, ống máu..gọi là đường kinh vật chất định hình ,nhưng cũng có khả năng truyền theo đường khí chạy ngoài kin, khoa học không nhìn thấy được nhưng đo được ,chúng ta gọi là đường kinh vật chất vô định hình .( cũng giống như những loại khí ô nhiễm trong không khí, không nhìn thấy được, nhưng chúng ta có thể đo đếm được có bao nhiêu thành phần ion, thành phần phóng xạ, thành phần hồng ngoại, tử ngoại, oxy, carbone..chứa trong 1 lít không khí ).

3- Đường đi của khí qua huyệt trên một đường kinh có thể thuận chiều (bổ ), có thể nghịch chiều (tả ), có thể đi vào (liễm), có thể đi ra (xuất), có thể đi lên (thăng), có thể đi xuống (giáng), có thể nối một chiều sang kinh khác qua huyệt lạc, có thể nối hai chiều hay nhiều chiều qua huyệt giao hội, có thể tập trung chỉ huy kiểm soát một chức năng hay một bộ phận chuyên môn ( bát hội huyệt)..và đặc biệt huyệt có khả năng chế biến tạo ra nhiều loại thuốc mới rất kỳ diệu không ngờ do cách nối huyệt thành hợp huyệt, và cùng một hợp huyệt giống nhau tác động lên đường kinh vật chất định hình sẽ cho ra một loại thuốc chữa bệnh hoàn toàn khác với loại thuốc được truyền khí trên đường kinh vật chất vô định hình.

4- Ngoài đường đi của huyệt trên 12 chính kinh, mỗi kinh còn có một huyệt đại diện cho khí hoặc huyết của kinh đó trực thuộc vào sự điều động của kinh tam tiêu bên tay trái thuộc huyết, bên tay phải thuộc khí, còn các huyệt trên kinh tam tiêu lại rất ít, nhưng khi điều chỉnh đến nó là đã điều chỉnh nguyên huyệt của các chính kinh. Cho nên kinh tam tiêu rất quan trọng trong phương pháp chữa bệnh bằng khí công.

5- Huyệt trên kinh vật chất định hình không có những đường đi đặc biệt rút ngắn, muốn đi từ kinh này sang kinh khác chỉ có qua huyệt lạc hoặc qua tĩnh huyệt nơi giao điểm của cuối kinh này đầu kinh kia mà thôi, nhưng trên kinh vật chất vô định hình truyền bằng khí công thì có đoạn liên hợp để truyền khí từ kinh dương sang kinh âm hoặc ngược lại, để truyền khí từ trong ra ngoài như muốn giải độc cơ thể,hoặc từ ngoài vào trong như muốn phục hồi chân khí bị mất.

6- Hợp huyệt được truyền khí trên đường kinh vật chất vô định hình còn tùy vào khả năng phóng năng lượng của người truyền, kỹ thuật truyền,và cách phối hợp huyệt để truyền với mục đích gì, lúc đó một mặt năng lượng đi thẳng vào nơi tích lũy chân khí của bệnh nhân, rồi từ hệ thống kinh mạch ngũ hành sẽ điều chỉnh, phân phối một cách tự động theo nhu cầu, mặt khác năng lượng trong chân khí được phân phối theo con đường phối hợp của huyệt mà người truyền khí đã nghiên cứu sáng tạo ra, cách chữa này trong khoa đông y châm cứu không áp dụng vì không có khả năng truyền khí như khí công.

Những khám phá cách chữa bệnh mới bằng khí công
Tuy gọi là mớI đối với ngày nay, nhưng phương pháp này đã từng được sử dụng và tập luyện trong khí công của các tiên gia đạo Lão, vào thời đó không có ai giải thích thắc mắc tại sao phải tập như vậy, phải làm như vậy, mà chỉ thực hành, truyền từ người này đến người khác, đời này đến đời khác rồi bị chế biến thêm bớt thành thất trưyền. Giống như ở thời đại địện toán của chúng ta, người có công nghiên cứu chế tạo rồi lập ra thảo chương và dạy cho chúng ta biết cách sử dụng, không cần giải thích, vì giải thích là dạy ra cách chế biến phải là người có trình độ tương đương mới hiểu được, cho nên chỉ cần phổ biến cho người khác biết sử dụng là đủ, rồi cứ thế người ta truyền dạy cách sử dụng từ người này đến người khác.

Cũng như thế, qua qúa trình sử dụng huyệt trên mọI lãnh vực như chữa bệnh, khai mở luân xa, tập khí công, thiền, yoga, võ thuật.. mục đich duy trì bảo vệ sức khỏe, tuổi thọ của thân thể vật chất, còn phát triển về tinh thần và tâm linh đến chỗ cao siêu hơn.

Vì thế cách sử dụng huyệt để chữa bệnh theo khí công đã khám ra quy luật chữa bệnh riêng của nó để giải thích tại sao hiệu qủa chữa bệnh của nó nhanh hơn các phương pháp chữa bệnh thông thường khác mà chúng ta đã biết.

1. Quy luật BIẾN HÓA âm dương:
Khí căn bản trong con người là nguyên khí hay chân khí tiên thiên phát sinh từ thận, sự hoạt động khí hóa trong con người phát sinh từ chân khí gồm thận âm thận dương mang lưỡng tính âm dương phân phối vào ngũ tạng biến thành khí ngũ hành giúp tạng phủ hoạt động. Khí nuôi dưỡng con người là cốc khí từ thực phẩm, lại nhờ tạng phủ biến đổi thành ngũ khí âm đi từ tạng theo lạc mạch tam tiêu ra kinh âm ,khi đó các huyệt âm trên kinh âm thu rút âm chất để hóa dương tạo ra ngũ khí dương theo lạc huyệt sang kinh dương, khi đó các huyệt trên kinh dương thu rút dương chất, khí chất để hóa âm nuôi âm tạo ra huyết rồi vào phủ qua mạch tam tiêu vào tạng, rồi từ tạng lại truyền khí đi tiếp thành chu trình khép kín. (Hình vẽ biểu tượng là âm-dương và tứ tượng, trong âm có dương, trong dương có âm, được áp dụng tuyệt đối trong tập luyện khí công và trong chữa bệnh ).
Khí âm dương của tạng phủ chuyển hóa thức ăn tạo ra chân khí hậu thiên nạp tại thận, tạo ra vinh khí để nuôi dưỡng phát triển cơ thể và tạo ra vệ khí để bảo vệ cơ thể.

Phần chuyển hóa cốc khí ra khí âm dương là giai đoạn chuyển tinh hóa khí giai đoạn một ,mặt khác chân khí ( tiên thiên và hậu thiên )còn truyền theo Mạch Nhâm Đốc kiểm soát điều hành âm dương khí của tạng phủ và thu rút phần tinh hoa của khí huyết để chuyển thành tinh ( khoảng 40 gram máu mới tạo được 1 gram tinh ) rồi từ tinh hóa tủy ( khoảng 40 gram tinh hóa thành 1 gram tủy ) chia làm hai phần đi lên não, phần tinh hoa của huyết là phần vật chất thấy được tạo thành tủy sống ,chất nhão của óc, phần tinh hoa còn lại của tinh biến thành khí là giai đoạn chuyển tinh hóa khí giai đoạn hai không thấy được ,sẽ tăng cường chức năng hoạt động và phát trIển thần kinh theo thần đoạn lên não nuôi dưỡng phát triển não và củng cố thần kinh gọi tắt là giai đoạn chuyển khí hóa thần .

2. Quy luật KHÍ HUYẾT:
Bệnh taị huyết thì chữa khí trong huyết (dương trong âm ), bệnh tại khí thì chữa huyết trong khí ( âm trong dương ). Bệnh thuộc chức năng thuộc khí ( dương trong dương ), bệnh thuộc cơ sở thuộc huyết ( âm trong âm ) .Có khí nằm trong huyết là vệ khí ( dương trong âm ), có huyết nằm trong khí là vinh khí ( âm trong dương ).

Thí dụ trong huyết có khí :
Huyết giống như mỏ dầu thô là vật chất hỗn tạp chưa sử dụng được, nếu có nhà máy lọc dầu sẽ phân tách được nó ra làm nhiều loại có công dụng khác nhau,( nhà máy lọc tượng trưng cho khí chế biến huyết ),phần cao cấp nhất lấy từ dầu thô bây giờ là khí acétone, éther.. khi huyết được khí chế biến sẽ thành những sản phẩm như xương cốt, da thịt, gân, móng, râu, tóc.. là phần vật chất, phần tinh hoa của huyết là chất huyết thấy được gồm chất tủy, chất não, phần không thấy được gọi là khí trong huyết phân làm hai loại, loại không thấy nhưng đo đếm được số lượng hồng cầu, bạch cầu, huyết thanh, huyết bản, tế bào máu, phần không đo đếm được nhưng người ta chỉ cảm nhận được, biến thành năng lượng khí vô định hình giúp cơ thể khỏe mạnh.

Thí dụ trong khí có huyết :
Khí ở trong cơ thể do bẩm sinh có ở trong mỗi con người gọi là chân khí tiên thiên hay nguyên khí, khí thứ hai do hơi thở được luyện tập cho có nhiều hơi trong phổi hơn những người bình thường khác, cho dung tích phổi chứa tối đa gọi là tông khí , khí hoạt động trong cơ thể một cách tự nhiên như hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục là khí lục phủ ngũ tạng. Còn khí để nuôi dưỡng và phát triển cơ thể là do cốc khí biến từ thức ăn uống, được bao tử chuyển hóa mà thành gọi là vinh khí và vệ khí. Như vậy khí của bao tử chuyển hóa thức ăn thành dưỡng trấp là loại huyết thô như dầu thô, cơ thể con người là nhà máy lọc dầu, dùng khí của hơi thở, dùng khí của ngũ hành lục phủ ngũ tạng, mới biến dưỡng trấp thành huyết.Từ huyết lại biến thành vinh khí nuôi dưỡng phát triển cơ thể, biến thành vệ khí bảo vệ cơ thể thay tế bào cũ đổi tế bào mới, tinh hoa của khí huyết dư biến thành năng lượng gọi là chân khí hậu thiên dự trữ vào kho chân khí ( tiên thiên và hậu thiên ), nạp vào thận khí theo cột sống đi theo Nhâm Đốc mạch bảo trì và phát triển bộ não là khí hóa thần.

3.Quy luật PHÂN TIẾT ĐOẠN TRÊN KINH
Ngoài 12 kinh và tạng phủ tuân theo quy luật ngũ hành để sử dụng phương pháp bổ hay tả khi cần thiết như đông y châm cứu, nhưng khi bổ tả theo khí công là bổ tả theo tiết đoạn nối liền giữa hai huyệt, mỗi đường kinh vật chất vô định hình được chia làm nhiều đoạn đặc biệt để truyền khí khác nhau, tùy theo mục đích và công dụng, nên có những điểm nối khác nhau tạo ra những tiết đoạn có công dụng khác nhau :

a-Tiết đoạn đặc trưng của Mạch Nhâm-Đốc và 12 kinh : dùng để chỉnh cơ năng hoạt động của đường kinh.
b-Tiết đoạn chức năng của Mạch Nhâm-Đốc và 12 kinh : dùng để tăng thêm khí đẩy mạnh sự hoạt động của đường kinh.
c-Tiết đoạn ngũ hành của 12 kinh : dùng để quân bình sự hoạt động của các khí trong đường kinh.
d-Tiết đoạn liên hợp của Nhâm-Đốc và 12 kinh : dùng để điều chỉnh khí của các đường kinh có liên quan được nối huyệt từ đường kinh này sang kinh khác qua lạc huyệt.
e-Tiết đoạn thần đoạn : là đoạn kinh dương chạy lên vùng đầu có ảnh hưởng trực tiếp ở vùng đầu tác động thẳng vào hệ thần kinh trung ưöng để giúp chân dương khí hóa thần.

4.Quy luật BIỂU-LÝ TẠO VÒNG KHÍ ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH:
Khi hai kinh mạch và tạng phủ cùng một hành được nối với nhau sẽ tạo ra một vòng khí đặc biệt :

a-VÒNG HỎA TÂM KHÍ : Chủ mạch của khí và huyết. Tạng Tâm và phủ Tiểu trường nối thành vòng hoạt động của hỏa tâm khí ( dương trong âm )bắt đầu phát xuất từ tim theo mạch ra huyệt khởi Cực Tuyền vào đường kinh biến âm trưởng dương tiêu ra đến bàn tay thành thuần âm. Từ lạc huyệt Thông Lý ,tâm khí qua huyệt Chi Chánh sang Kinh Tiểu trường lại biến âm thành dương trưởng âm tiêu vào huyệt nhập Thiên Tông, chia hai phần, phần âm huyết về nuôi dưỡng Tim và Tiểu trường, phần dương khí theo thần đoạn của Kinh Tiểu trường lên mặt để hóa thần .

b-VÒNG NHIỆT TÂM KHÍ : Do chân hỏa từ tâm sinh ra đưa vào màng tâm bào, nối với phủ tam tiêu tạo ra vòng nhiệt tâm khí ra huyệt khởi Thiên Trì của Kinh Tâm bào, dương nhiệt tâm khí biến dương trưởng âm tiêu ra tay thành thuần âm. Từ lạc huyệt Nội Quan nhiệt tâm khí qua lạc huyệt Ngoại Quan vào Kinh Tam tiêu biến âm nhiệt dương khí thành dương trưởng âm tiêu đến huyệt nhập Thiên Dũ thì âm phần về nuôi tạng Tâm bào và phủ Tam tiêu, còn dương phần theo thần đoạn của Kinh Tam tiêu lên mặt để hóa thần.

c-VÒNG CAN KHÍ : Do chân khí vào tạng can sinh ra. Tạng Can và phủ Đởm nối nhau hoạt động thành vòng can khí ra huyệt khởi Kỳ Môn của kinh can ,dương can khí biến âm trưởng dương tiêu chạy xuống đến lòng bàn chân thành thuần âm, qua lạc huyệt Lãi Câu vào lạc huyệt Quang Minh của kinh Đởm thì âm can khí biến dương trưởng âm tiêu đến huyệt nhập Kiên Tĩnh thì âm phần theo mạch lạc về nuôi phủ tạng, dương phần theo thần đoạn kinh đởm lên mặt để hóa thần.

d-VÒNG TỲ KHÍ : Do chân khí vào tạng Tỳ sinh ra. Tạng Tỳ và phủ Vị nối nhau hoạt động thành vòng Tỳ khí ra huyệt khởi Đại Bao vào Tỳ kinh biến âm trưởng dương tiêu xuống chân thành thuần âm, qua lạc huyệt Công Tôn sang lạc huyệt Phong Long của kinh Vị, biến dương trưởng âm tiêu đến huyệt nhập Khuyết Bồn thì âm phần của tỳ khí về nuôi tạng phủ, còn dương phần theo thần đoạn kinh Vị lên mặt để hóa thần.

e-VÒNG PHẾ KHÍ : Do chân khí đi vào tạng phế sinh ra. Tạng Phế và phủ Đại Trường hoạt động thành vòng phế khí theo mạch lạc ra huyệt khởI Trung Phủ của kinh phế biến dương phế khí âm trưởng dương tiêu chạy ra đến lòng bàn tay thành thuần âm qua lạc huyệt Liệt Khuyết sang lạc huyệt Thiên Lịch của kinh Đại trường biến âm tiêu dương trưởng vào huyệt nhập Thiên Đỉnh chia hai phần, âm phần của phế khí về nuôi tạng phủ, dương phần theo thần đoạn của kinh Đại trường lên mặt hóa thần.

f-VÒNG THẬN KHÍ : Do chân khí đi vào tạng thận sinh ra. Tạng Thận và phủ Bàng Quang hoạt động thành vòng Thận Khí theo lạc mạch ra đi thành hai vòng :
Vòng trên đưa thủy âm hóa khí ra huyệt Thận Du lên huyệt Tình Minh hóa thần, theo lạc mạch về huyệt Du Phủ vào kinh thận giao hòa với tâm hỏa ở huyệt Thần tàng, qua lạc Khí Huyệt về tạng thận theo mạch lạc sang bàng quang.
Vòng dưới là vòng biến hóa âm dương thận khí, từ thận ra huyệt Khí Huyệt là thận khí dương biến âm trưởng dương tiêu chạy xuống lòng bàn chân thành thuần âm qua lạc huyệt Đại Chung trên kinh thận sang lạc huyệt Phi Dương biến âm thận khí âm tiêu dương trưởng về Thận Du chia hai phần, âm phần vào trong về nuôi tạng phủ, dương phần theo đường thần kinh giao cảm trên đường bối du nhập với vòng trên lên đầu để hóa thần.

g-VÒNG CHÂN KHÍ : Là vòng nguyên khí lưỡng tính âm dương do bẩm sinh cha mẹ truyền cho gọi là chân khí tiên thiên. Chân khí tiên thiên do tinh cha huyết mẹ tạo thành ( tinh trùng, noãn sào, gène )và lệ thuộc vào yếu tố nuôi dưỡng trong bào thai về tinh thần và vật chất của cha mẹ, nếu tinh thần vật chất của cha mẹ lúc mang thai ăn uống đầy đủ chất bổ dưỡng, tinh thần vui vẻ yêu đời thì chân khí tiên thiên của mình mới hoạt động khí hóa tốt , thần kinh của mình mới hoạch định chương trình hoạt động khí hóa ngũ hành mạnh hay yếu để tạo ra số phần trăm hấp thụ dinh dưỡng sau này để phát triển cơ thể. Thức ăn nuôi dưỡng cơ thể thành khí huyết gọi là chân khí hậu thiên đi theo sự biến đổi âm dương của các vòng khí tâm, can, tỳ, phế, thận chuyển thành âm phần về nuôi dưỡng tạng phủ, âm phần ở thận tạo ra tinh,được tuyến thượng thận biến tinh hóa khí. Nếu chân khí tiên thiên mạnh sẽ hấp thụ cốc khí chuyển hóa theo ngũ hành tạng phủ thành chân khí hậu thiên từ 10-50%, thí dụ hai đứa trẻ sanh cùng ngày tại bệnh viện và được nuôi dưỡng ăn uống đúng tiêu chuẩn giống nhau một thời gian hai năm, nhưng sự phát triển cơ thể của hai đứa sẽ khác nhau nếu chân khí tiên thiên của hai đứa trong hai hoàn cảnh vật chất và tinh thần của cha mẹ sung sướng và khổ sở khác nhau, đứa lớn hơn, thông minh, khỏe mạnh hơn do hoạt động của chân khí tiên thiên tăng số phần trăm hoạt động và hấp thụ nhiều hơn so với đứa kia chân khí tiên thiên kém hơn.
Cách hoạt động của vòng chân khí như sau :
Vòng hoạt động chân khí chia hai vòng :
Vòng chính : Chân khí tiên thiên vào phủ tạng giúp ngũ tạng hoạt động khí hóa gọi là ngũ tạng khí. Dương chân khí hậu thiên phát ra ở huyệt Mệnh Môn theo Mạch Đốc lên đầu qua thần đọan để khí hóa thần ,qua huyệt Ngân Giao biến dương khí thành âm khí vào Mạch Nhâm xuống đan điền nạp âm chân khí vào Khí hải.
Vòng phụ: Âm khí từ Khí hải theo mạch Nhâm xuống huyệt Hội âm là thuần âm sang Trường Cường biến âm thành dương theo Mạch Đốc lên điểm xuất phát Mệnh Môn nhập vào vòng chính.
Như vậy nguyên khí (chân khí tiên thiên) cùng với Mạch Nhâm-Đốc hoạt động thành vòng chân khí. Chân khí dư thừa của hậu thiên sẽ từ từ bổ sung cho chân khí tiên thiên làm tăng phần trăm tính hoạt động và hấp thụ dinh dưỡng bằng cách cơ thể phải năng hoạt động như tập thể dục hoặc võ thuật để cơ thể phát triển. Người mập mà sức khỏe yếu là dinh dưỡng dư thừa không chuyển thành chân khí hậu thiên, chân khí chính là sức khỏe bền bỉ của một người , mặc dù có thiếu ăn so với người khác nhưng sự chuyển hóa chân khí mạnh hơn người khác .

5-QUY LUẬT LIÊN KẾT KHÍ CỦA KỲ KINH BÁT MẠCH :
a-Vòng liên kết âm dương Nhâm-Đốc. (theo vòng Tiểu chu thiên).
b-Vòng liên kết ngang dọc Xung-Đới .theo chiều khí đi ngang và dọc nối Mạch Xung (gồm chân khí , ngũ khí nối liền Nhâm-Đốc,Vị-Đởm,Thận và Mạch Đới liên kết khí hàn nhiệt của 6 kinh âm dương ở chân với Nhâm Đốc ).
c–Vòng liên kết trước sau của âm dương duy : Nối 6 kinh dương với Mạch Đốc giúp dương trưởng âm tiêu và nối 6 kinh âm với mạch Nhâm giúp dương tiêu âm trưởng.
d-Vòng liên kết trên dưới của âm dương kiều : Nối 6 kinh âm ở chân với Mạch Nhâm và 6 kinh dương ở chân với Mạch Đốc để chỉnh tâm thần kinh.

6.QUY LUẬT BIỂU-LÝ TRONG CHỮA BỆNH
Bệnh còn ở biểu thuộc khí, chỉ chữa kinh dương vệ khí thuộc kinh phế và kinh bàng quang. Không được chữa vào kinh âm làm cho bệnh nhập lý, vô tình dẫn tà khí vào sâu trong tạng phủ làm cho bệnh nặng thêm. Nếu có ai cho rằng bệnh gì cũng thông 12 kinh trước khi chữa trong khi chưa biết bệnh do nguyên nhân nào theo bát cương, vô tình đem bệnh truyền từ biểu vào lý nhanh hơn sẽ làm hại các đường kinh chưa bị bệnh.
Bệnh ở lý thì chia theo khu vực tam tiêu, tà khí còn ở thượng tiêu thì cho xuất .ở trung tiêu cho hòa, ở hạ tiêu cho hạ, cô lập vùng để chữa không cho thông tam tiêu khiến cả ba vùng bị bệnh.

7.QUY LUẬT TRUYỀN KHÍ :
Mỗi đường kinh có hai khả năng nhận khí vì HUYỆT có tính dẫn truyền đa dạng :

a-Đường kinh là những sợi thần kinh, những mạch máu nhỏ chạy dưới da, trong thịt, trên gân, trên xương, nơi khe xương nối nhiều huyệt trên cùng một đường dẫn truyền mà chúng ta thấy được là đường kinh vật chất định hình .Nếu chúng ta bấm huyệt mà không có nội lực thì chỉ kích thích vào chức năng hoạt động của huyệt trên đường kinh có tính chất cơ học dẫn truyền chứ không phải truyền khí .

b-Cũng trên đường kinh ấy, nếu chúng ta có nội lực truyền khí thì khí được truyền theo cả hai đường, đường truyền theo cơ học dẫn truyền trên kinh vật chất định hình và đường truyền nội lực trên đường kinh vật chất vô định hình vào thẳng chân khí sau đó chân khí mới truyền qua ngũ hành tạng phủ để chữa bệnh. Do đó người có khả năng truyền nội lực bằng đường kinh vật chất vô định hình sẽ tăng cường thêm chân khí cho bệnh nhân mạnh hơn liều thuốc bổ, kết qủa sắc mặt bệnh nhân hồng hào ngay sau khi được truyền, còn người truyền nội lực không bị hao tổn mất chân khí , không mệt mỏi.
Nếu một người không có nội lực, cũng bắt chước truyền nội lực, vô tình truyền chân khí của mình sang cho bệnh nhân, bệnh nhân cũng được tăng lên chút đỉnh do thầy vận dụng công phu nội công đẩy vào, sau đó chân khí của thầy bị hao tổn mất, bộ mặt thầy trở nên trắng xanh và mệt mỏi.

c-Tùy theo cách truyền khí trên loại kinh nào , như 12 chính kinh, 8 kỳ kinh bát mạch:
-Đối với 12 chính kinh, mỗi đường kinh đều có ba đoạn truyền kinh có công dụng khác nhau gọi là tiết đoạn đặc trưng, tiết đoạn chức năng, tiết đoạn ngũ hành. Ngoài ra trên những kinh dương chạy lên đầu còn có tiết đoạn đặc biệt gọi là thần đoạn, ảnh hưởng chỉnh trực tiếp thần kinh của não bộ .
-Đối với Kỳ kinh bát mạch, mượn các huyệt nằm trên 12 chính kinh, nhưng được nối với nhau từ kinh này sang kinh khác bằng một công thức riêng để thành một mạch riêng gọi là kỳ kinh bát mạch, nếu không có nội lực, khi truyền sẽ không có tác dụng gì, ngược lại nếu có nội lực mà không biết mục đích và quy luật truyền sẽ gây nguy hiểm cho bệnh nhân.

8-QUY LUẬT TĂNG GIẢM HỎA 12 KINH :
Dùng khí công vuốt trên hỏa đoạn của kinh khi cần thiết để tăng hỏa theo chiều thuận của đường kinh hay để giảm hỏa theo chiều nghịch của đường kinh, nó có công dụng làm nóng khí trên kinh dương hay làm ấm huyết trên kinh âm để chữa những bệnh đau nhức do hàn; hoặc làm bớt nhiệt của khí trên kinh dương hay làm mát huyết trên kinh âm để chữa những bệnh đau nhức co rút do nhiệt hay nóng sốt.
Khi sử dụng hỏa đoạn với mục đích chữa bệnh hàn hoặc bệnh nhiệt phải lưu ý xem đoạn ấy có trùng với đoạn tả ,đoạn bổ hay đoạn đặc trưng (để làm thông kinh) theo tiết đoạn ngũ hành của đường kinh hay không để tránh tình trạng phạm ngũ hành, thực làm thêm thực, hư làm thêm hư. Hỏa đoạn phần nhiều dùng để chữa chung với tiết đoạn bổ hoặc tiết đoạn tả cuả 12 kinh trong các bệnh hư hàn, hư nhiệt, thực hàn, thực nhiệt rất có hiệu qủa.

9-QUY Luật tự phá vỡ quân bình rồi tái lập lại quân bình :
Chữa bệnh bằng khí công là chủ động tự làm mất quân bình sự khí hóa tức thời để cơ thể phát lộ ra bệnh rõ hơn, rồi tái lập lại quân bình về âm, dương, khí ,huyết. Nhưng phá vỡ quân bình ở âm, ở dương, ở khí, ở huyết, ở thần kinh hay ở kinh ngũ hành nào với mục đích nào, còn lệ thuộc vào kiến thức kinh nghiệm của thầy thuốc trị bệnh bằng khí công truyền nội lực, nếu không hiểu quy luật đối chứng trị liệu lâm sàng thì không nên làm sẽ có hại cho bệnh nhân.

10-QUY LUẬT vận ngũ hành trên kinh mạch ĐỂ CHỮA BỆNH
Muốn vận ngũ hành phải có khí công nội lực mới có hiệu qủa trong chữa bệnh. Có 3 cách áp dụng trên ba loại kinh khác nhau sẽ tạo ra nhiều cách phối hợp huyệt đặc biệt để phát huy sự kỳ diệu của huyệt trong việc chữa bệnh có kết qủa nhanh chóng không ngờ so với các công thức phối hợp huyệt cổ điển từ trước đến nay.

I-  Áp dụng bối du huyệt trên kinh Bàng quang :

A-PHƯƠNG PHÁP HỎA VẬN như Hỏa âm nhập thổ âm để điều hòa âm trong dương của tâm-tỳ âm.Hỏa dương nhập thổ dương là dương trong dương để điều hòa tâm-tỳ dương. Tương tự, cách phối hợp Hỏa nhập kim âm, dương. Hỏa nhập thủy âm, dương. Hỏa nhập mộc âm, dương. Mỗi cách chữa mỗi bệnh nan y khác nhau.
B-PHƯƠNG PHÁP NHIỆT VẬN : Áp dụng trong phép ôn và hãn ( làm ấm và làm xuất mồ hôi ) như Nhiệt nhập thổ,nhập kim,nhập thủy, nhập mộc, nhập hỏa âm, dương.
C-PHƯƠNG PHÁP THỔ VẬN : Như Thổ nhập kim, nhập thủy, nhập mộc, nhập hỏa âm dương.
D.PHƯƠNG PHÁP KIM VẬN :Như Kim nhập thủy, nhập mộc, nhập hỏa, nhập thổ âm, dương.
E.PHƯƠNG PHÁP THỦY VẬN : Như Thủy nhập mộc, nhập hỏa, nhập thổ, nhập kim âm, dương.
F.PHƯƠNG PHÁP MộC VẬN : Như Mộc nhập hỏa, nhập thổ, nhập kim, nhập thủy âm, dương.( mộc nhập hỏa dùng để cho xuất mồ hôi ).

II- Áp dụng trên Kỳ Kinh Bát Mạch :
Mạch Nhâm : cũng có Hỏa vận, Nhiệt vận, Thổ vận, Kim vận, Thủy vận, Mộc vận.
Ngoài ra còn có Mạch Âm Dương duy, Âm Dương kiều cũng áp dụng vận ngũ hành.

7- Công dụng của khí công chữa bệnh:
Như vậy tập khí công là cách tự mình thông huyệt chữa bệnh cho mình bằng các bài tập thể dục động công, động tác theo hơi thở chậm, nhẹ, sâu ,lâu, đều, và các bài tập thở tĩnh công để nạp năng lượng tăng nội lực, và bền chí tập luyện từ ngày này sang ngày khác chắc chắn sẽ có kết qủa tốt, cơ thể khỏe mạnh, ít tật bệnh hơn người khác, ăn ngon,tiêu hóa tốt, ngủ dễ dàng, tinh thần sáng suốt, trí óc minh mẫn.

Người tập khí công cũng có thể dùng năng lượng nội lực của mình để chữa bệnh cho người khác, nhưng phải hiểu biết phương pháp chữa bệnh theo quy luật của cách chữa bệnh là âm dương ngũ hành tạng phủ.

Nếu có hai người cùng tập, sau một thời gian tập hít thở nạp khí,( giai đoạn hai của KCYĐ ) người này có thể giúp người kia hay giúp cho bệnh nhân đả thông Mạch Nhâm-Đốc tăng cường chân khí hậu thiên để bổ sung chân khí tiên thiên bằng cách đặt chồng hai bàn tay lên huyệt Khí Hải ( dưới rốn 4-5 cm) ở vị thế bệnh nhân nằm ngửa, gọi đơn giản là cách thở bằng bụng , giúp bệnh nhân hít thở theo dõi phồng-xẹp ở huyệt Khí Hải để biến âm chất ở Khí Hải (dương trong âm) qua Mệnh Môn hóa dương ( dương trong dương ) theo Mạch Đốc lên đầu qua thần đoạn để khí hóa thần ,củng cố và phát triển thần kinh, trí não, phần dương chân khí còn lại tiếp tục vào huyệt Ngân Giao xuống Mạch Nhâm nhờ cuốn lưỡi cong lên hàm trên làm cầu nối cho dương chân khí biến thành âm chân khí chạy trên Mạch Nhâm hóa âm chân khí tàng trữ vào đan điền tinh nơi huyệt Khí Hải, thời gian theo dõi khi để tay lên huyệt Khí Hải là 50 lần hít thở, bệnh nhân cảm thấy bụng ấm, sôi, hạ khí, trung tiện, thở sâu, nhẹ bụng, mau tiêu hóa, mau đói, ăn biết ngon, đi cầu dễ ,cách thở bằng bụng giúp tăng tính hấp thụ và chuyển hóa cốc khí thành âm chân khí làm cho cơ thể tăng huyết, nếu người ăn nhiều vẫn gầy tập cách này sẽ trở nên mập mạp khỏe mạnh.

Sau 50 lần thở ở huyệt Khí Hải, đổi sang nằm úp, người bạn đặt hai bàn tay chồng lên huyệt Mệnh Môn ( chỗ trũng ngang thắt lưng ),theo dõi hơi thở của bệnh nhân, khi hít vào, huyệt Mệnh Môn bị đẩy lên, khi thở ra ,dùng hai bàn tay giúp sức đè cho huyệt Mệnh Môn hạ xuống rồi buông nhẹ cho huyệt Mệnh Môn nổi lên khi bệnh nhân hít vào, cách thở này gọi nôm na là cách thở bằng thận để tăng sự chuyển hóa âm chân khí ở Khí Hải sang Mệnh Môn biến thành dương chân khí, làm động tác này 50 lần, bệnh nhân cảm thấy hơi thở sâu hơn, cơ thể ấm, mặt hồng lên, đầu và trán ấm, nếu người mập mạp, ăn nhiều mà không khỏe mạnh là do âm chân khí không được Mệnh Môn chuyển hóa thàng dương chân khí, trường hợp này áp dụng cách thở bằng thận, số lần thở bằng thận nhiều hơn số lần thở bằng bụng gấp hai ba lần để giúp Mệnh Môn hoạt động thu rút âm chân khí ở Khí Hải biến dương chân khí nhiều hơn, như vậy dương chân khí theo Mạch Đốc lên đầu, đúng ra nó tự động qua thần đoạn hóa khí, nhưng thần đoạn có thể bị tắc không thông, người bạn sẽ giúp thông thần đoạn bằng cách dùng ngón tay cái vuốt mạnh và nhanh từ huyệt Ấn Đường (giữa hai đầu chân mày ) lên đỉnh đầu vòng xuống dừng lại ở chân tóc gáy (huyệt Thiên Phủ ), sau khi vuốt 6 lần, mặt bệnh nhân đỏ lên , đó là khí hóa thần, sẽ giúp tăng cường mạnh thêm chân khí tiên thiên. Người có nhiều dương chân khí hơn âm chân khí thì cơ thể khỏe mạnh, da thịt rắn chắc nhưng không mập, người có ít âm chân khí là người ốm yếu, người có nhiều âm chân khí hơn dương chân khí là ngườI mập mà yếu, chân khí âm dương bằng nhau là tiêu chuẩn lý tưởng.
Bài tập thở này giúp điều chỉnh mập, ốm một cách tự nhiên không có hại cho sức khỏe. Nếu chúng ta không có người phụ giúp tập thở, chúng ta cũng có thể tự tập một mình bằng cách dùng túi cao su đựng nước ấm nóng để trên huyệt Khí Hải, hoặc để trên huyệt Mệnh Môn, vừa có sức nặng như đè vào huyệt, vừa có sức nóng giúp sự tập trung vào huyệt đúng hơn khi theo dõi hơi thở bụng hay hơi thở thận.

8-ỨNG DỤNG VẬN KHÍ CÔNG NGŨ HÀNH TRONG THỰC TẾ :

a-Trong dân gian của giới bình dân :
Quy luật vận ngũ hành trong khí công để chữa bệnh cũng nằm trong quy luật âm dương ngũ hành của đông y, có kết qủa tối đa đối với người có tập luyện khí công, nhưng trong thực tế đời sống hàng ngày, từ cả ngàn năm trước, bà con thôn xóm ở vùng xa xôi hẻo lánh không có đại phu, hay không có tiền đi đại phu khi bị bệnh, đều đến nhờ những vị chân sư võ đạo nơi sơn động hoặc các bậc tôn sư chưởng môn dạy võ thuật chữa bệnh giùm, đa số đều thấy các thầy chỉ vuốt qua vuốt lại vài lần trên những tiết đoạn của đường kinh là những bệnh cảm cúm ,đau nhức, té ngã, sưng trặc, bong gân, gẫy xương, nóng sốt, trúng độc, đau bụng …đều lành bệnh. Từ đó họ bắt chước, áp dụng cách làm của các vị chân sư võ đạo tiền bối khai sáng ra môn chữa bệnh bằng khí công, họ tự làm tự chữa khi không gặp được thầy, họ vuốt trên đoạn khí ngũ hành trên bối du huyệt đường kinh Bàng quang ở trên thăn lưng. Vuốt trên đoạn đặc trưng của đường kinh trên cánh tay, trên cẳng chân, bàn tay bàn chân, trên thần đoạn ở đầu, cổ, gáy. Thí dụ bệnh nóng sốt do tâm hỏa thực, thận thủy bất giao, họ vuốt từ huyệt Thận du trên thăn lưng ngang lưng quần kéo lên Tâm du ngang với tim, hoặc vuốt đoạn ngũ hành cho mộc nhập hỏa, tự nhiên người bớt nóng hạ cơn sốt cấp kỳ, cảm sổ mũi, họ vuốt từ huyệt tâm du lên phế du đem hỏa vào phế để làm cho phổi ấm sẽ hết cảm lạnh. Ói mửa đau bụng họ gọi là trúng gió, họ vuốt từ Vị du lên Đởm du giúp tiêu hóa, từ Đởm du lên Can du sinh hỏa, rồi từ Vị du lên thẳng Tâm du làm cho bao tử nóng ấm sẽ hết ói mửa lạnh bụng, trặc chân tay, họ vuốt trên đoạn đặc trưng để khai thông khí huyết trên đường kinh làm mất sưng đau ..

Tất cả các cách chữa đều đúng theo quy tắc vận khí ngũ hành của đông y. Theo thời gian, dân gian dùng dầu dừa, dầu đậu phộng thoa trên da cho trơn dễ vuốt, trước kia vuốt bằng ngón tay có lực của các võ sư, dân gian dùng đồng tiền bạc để vuốt thay cho ngón tay nếu không có khí công, còn các bệnh họ quan niệm đơn giản là do gió ( phong ) thuộc mộc , dùng đồng tiền bạc bằng kim loại ngụ ý theo ngũ hành thuộc kim dùng khắc chế mộc để chữa những bệnh trúng gió. Đến thời văn minh dùng dầu lửa, thờI nay dùng dầu cù là, dầu phong, dầu bạc hà, dầu menthol, dầu vick.. và cạo gió bằng đồng tiền bạc kim loại thay vì vuốt.

Từ đó, cách chữa bệnh duy nhất của dân gian nơi thôn quê hẻo lánh là cạo gió cũng đem lại nhiều kết qủa chữa bệnh thần kỳ, nhưng nguồn gốc lý thuyết họ đã không biết, chỉ truyền dạy hoặc bắt chước áp dụng từ đờI này sang đời khác thành tam sao thất bản, cạo ngang cạo dọc, cạo lên cạo xuống, cạo tứ tung ngũ hoành như chúng ta thấy ngày nay, có những đoạn cạo thừa thãi không vào kinh mạch sẽ không hiệu nghiệm, những đoạn trúng vào các đoạn ngũ hành, đoạn đặc trưng, thần đoạn, đoạn liên hợp vẫn có kết qủa như thường, nhưng ngày nay không ai có thể giải thích được nguồn gốc tại sao môn cạo gió của dân gian cũng cấp cứu được nhiều bệnh mà đông tây y không giải quyết được.
Ngoài môn cạo gió, dân gian Trung quốc thời cổ đại còn chế biến thêm môn bắt gió, bẻ bão, tẩm quất, và giác hơi rồi dần dần thành môn massage chữa bệnh .

b-Trong thời đại khoa học ngày nay :
Từ phương pháp vuốt huyệt của đông y khí công cổ truyền biến cải dần trong thời đại khoa học với máy móc, dụng cụ tinh vi để phục vụ cho sức khỏe con người, nước Nhật phát triển mạnh môn massage có nghệ thuật hơn thành một nghề, trong kỹ nghệ kiếm tiền ở các phòng tắm hơi, mục đích thư giãn thần kinh khi tinh thần bị mệt mỏi, khó ngủ sau thời gian làm việc căng thẳng. Những người muốn làm nghề massage phải qua trường lớp được đào tạo có phương pháp bài bản, có chứng nhận tốt nghiệp mới được phép hành nghề. Từ đó, nghề này đã du nhập vào Tây phương và họ nhận thấy công hiệu của massage có hiệu nghiệm làm an thần, chống đau nhức, mệt mỏi, lại dễ ngủ có thể dùng để chữa những bệnh này một cách nhẹ nhàng, an toàn ,không cần dùng thuốc nên đã cải biến thành nghề massage chữa bệnh gọi là massothérapie .

Khoa học cũng đang chế tạo ra những dụng cụ và máy móc phục vụ cho môn chữa bệnh này trở nên chuyên khoa hiện đại như máy dùng để chỉnh lại những đốt xương cổ, xương lưng, máy massage điện day ấn trên lưng ,máy có hai bánh xe nhỏ lăn trên thăn lưng ở vị thế bệnh nhân nằm úp trên giường massage ,bánh xe chạy lên chạy xuống thay cho ngón tay vuốt huyệt của thầy khí công tác động trên những đoạn ngũ hành, nếu người điều khiển máy có hiểu biết công dụng chữa bệnh của đoạn ngũ hành của bối du huyệt trên thăn lưng, công việc chữa bệnh mới có kết qủa, còn ngược lại cho chạy đều khắp, hết chạy lên rồi chạy xuống nhiều lần không khác gì vẽ rồi xóa, vẽ lại rồi xóa nữa kể như không vẽ gì, hiện nay loại máy này đang được thử nghiệm, có người cảm thấy khỏe vài lần đầu, lạm dụng nhiều lần sẽ phạm ngũ hành làm giảm hồng cầu, chân khí hậu thiên bị cản không lên thần đoạn trên đầu để hóa thần và trở về Khí Hải để tăng cường thêm chân khí cho ngũ tạng hoạt động. Chế biến ra máy móc dụng cụ là cần thiết cho nhu cầu phục vụ sức khỏe, nhưng bị giới hạn kiến thức đông y khí công của người điều khiển, cũng như hiện nay khoa học đã chế ra máy tìm huyệt rất chính xác và sau này có thể chế thêm bộ phận chỉ cho thầy thuốc biết huyệt đó mạnh hay yếu so với tiêu chuẩn để biết hư hay thực, tiến xa hơn nữa có thể gắn thêm máy châm kim vào huyệt cho đúng giùm cho thầy thuốc, nhưng bệnh có khỏi còn lệ thuộc vào kiến thức của thầy thuốc chứ không lệ thuộc vào máy móc.

c-Ứng dụng trong Khí Công Y đạo :
Khí Công Y Đạo ứng dụng môn Khí công vừa động công, vừa tĩnh công vừa day bấm,vuốt huyệt và vận khí ngũ hành để thông Nhâm-Đốc giúp tăng cường chân khí, thông 12 chính kinh và kỳ kinh bát mạch giúp lục phủ ngũ tạng điều hòa tốt để củng cố và phát triển bộ ba Tinh-Khí-Thần luôn hòa hợp giúp tăng cường sức khỏe, phát triển thể lực, tinh thần, trí não và tâm linh, vừa phòng bệnh, tự chữa bệnh cho mình và có thể giúp ích cho người khác.

Đỗ Đức Ngọc

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *