Thủ thuật chẩn bệnh của Tác Động cột sống

Bài viết thuộc phần 6 trong Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam – Tài liệu bản gốc – Hà nội 9- 1991 -Tác giả:  Lương Y Nguyễn Tham Tán (1915-2000)

PHẦN 4: THỦ THUẬT CHẨN VÀ TRỊ BỆNH

I. THỦ THUẬT CHẨN BỆNH CỦA TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG

Phương pháp tác động cột sống ứng dụng 5 thủ thuật chẩn bệnh là: ÁP, VUỐT, ẤN, VÊ, MIẾT (bổ sung thủ thuật MIẾT)

I.1. THỦ THUẬT ÁP

Thủ thuật Áp là thủ thuật chẩn bệnh được tiến hành trước tiên trong phương pháp Tác động cột sống để chẩn bệnh

Mục đích của thủ thuật Áp là phát hiện sự biến đổi về nhiệt độ da (cao hoặc thấp hơn bình thường) ở trên hệ cột sống và ngoài phạm vi cột sống để làm cơ sở chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi sự tiến triển của bệnh trong điều trị.

Hình thức của thủ thuật Áp là dùng lòng bàn tay (thùy thuộc vào cảm giác của mỗi người mà có thể dùng mu bàn tay) đặt sát với lớp da của những vùng đã quy định, hoặc có yêu cầu trên người bệnh để thao tác theo trình tự của thủ thuật, để xác định được đầy đủ những yêu cầu của phương pháp. Ngoài ra còn có thể dùng máy đo nhiệt độ để thay thế cho thủ thuật Áp.

Các hình thức của thủ thuật Áp gồm có: Áp định khu và Áp không định khu

1/Áp định khu tức là hình thức bàn tay thao tác đặt nhẹ sát tới lớp da không quá 5 giây, nhấc bổng tay lên độ độ 5 giây, rồi lại đặt xuống và nhấc lên, cứ như thế 5-7 lần, có thể đủ để xác định được vùng đó có nhiệt độ cao hay thấp hơn bình thường. Hình thức thao tác này áp dụng với những vùng trong những trường hợp có định khu.

2/Áp không định khu là hình thức dùng bàn tay đặt nhẹ sát tới lớp da rồi xê dịch liên tục từ nhanh đến chậm tại khu có yêu cầu, độ vài ba lần qua lại là có thể xác định được vùng nhiệt độ đó cao hay thấp hơn bình thường. Hình thức này áp dụng với những trường hợp không định khu.

Trước khi thao tác cần chuẩn bị về tư thế và thủ thuật như sau:
1) Tùy thuộc vào những hạn chế của mỗi người bệnh mà ứng dụng các tư thế đứng, nằm hay ngồi cho thích hợp với việc chẩn bệnh.
2) Trước khi thao tác cần qua khâu chuẩn bị để tạo cho bàn tay và ngón tay thêm khả năng nhanh nhậy với cảm giác nóng lạnh khách quan bằng các động tác: xoa hai bàn tay với nhau liên tục, khi cảm thấy bàn tay đã đạt được yêu cầu là mềm mại và nóng ấm (đặc biệt là về mùa đông) mới tiền hành thao tác.

Trình tự thao tác được tiền hành trên các khu vực như sau:
1. Áp dụng hình thức Áp định khu để xác định nhiệt độ da địa phương, tức là phát hiện sự biến đổi về nhiệt độ da ở trên những khu vực mà người bệnh có cảm giác đau hoặc cảm giác giảm khu trú, như đầu, mình, chân tay vvv…
2. Áp dụng hình thức Áp không định khu để xác định nhiệt độ da cột sống, tức là phát hiện sự biến đổi về nhiệt độ da trên cột sống để xác định trọng khu, tạo điều kiện tiến hành thủ thuật VUỐT.
3. Áp dụng hình thức Áp định khu để xác định nhiệt độ da vùng tương ứng nội tạng tức là sự biến đổi về nhiệt độ da tại các vùng tương ứng với nội tạng đã được ghi trong phần đặc trưng về nhiệt độ da so với nhiệt độ bình thường của những vùng ấy.

I.2. THỦ THUẬT VUỐT

Thủ thuật VUỐT là thủ thuật chẩn bệnh được tiến hành thao tác trong phạm vi trọng khu sau khi đã xác định bằng thủ thuật Áp.

Mục đích của thủ thuật VUỐT là phát hiện những hiện tượng bệnh lí khu trú trên hệ cột sống như:
– Về hình thái đốt sống: Lồi, lõm, lệch (đơn hoặc liên)
– Về hình thái lớp cơ đệm: Co, Cứng, Mềm, Xơ, Sợi, Teo.

Ngoài ra còn phát hiện các sợi cơ bệnh lí tại các vùng có liên quan với trọng khu để xác định điểm Đối động theo quy định của phương thức đối động và phân định các thể Hẹp, Rộng, Lớn làm cơ sở tiến hành thủ thuật Ấn.

Thủ thuật VUỐT dùng đầu ngón hoặc cả thân ngón của các ngón tay chỏ, giữa, nhẫn; có thể dùng 1,2 hoặc cả 3 ngón đặt trên cơ lưng hoặc cột sống người bệnh, thao tác theo hướng kéo hất ngón tay vào lòng bàn tay, tùy theo yêu cầu của phương pháp đã quy định mà có thể thao tác từ nhanh đến chậm, dài hay ngắn, nông hay sâu.

Thủ thuật VUỐT có 4 hình thức:
1) VUỐT DỌC tức là vuốt dọc theo hệ cột sống từ trên xuống dưới, trong những trường hợp lớp cơ bệnh lí biểu hiện ngang cơ lưng.
2) VUỐT NGANG tức là vuốt từ cột sống kéo ngang ra cơ lưng, trong những trường hợp lớp cơ bệnh lí biểu hiện dọc theo hệ cột sống.
3) VUỐT CHÉO RA tức là vuốt chéo chếch xuống từ cột sống kéo chéo ra ngoài lưng để phát hiện những trường hợp lớp cơ bệnh lí biểu hiện từ cột sống chếch hoặc chéo ngược lên phía trên.
4) VUỐT CHÉO VÀO tức là đặt tay từ ngoài cơ lưng kéo chếnh xuống từ cơ lưng vào cột sống, phát hiện trong những trường hợp lớp cơ bệnh lí biểu hiện từ cột sống chéo hoặc chếch xuống phía dưới

CHÚ Ý: khi cần phát hiện hình thái bệnh lí ở lớp cơ trong thì phối hợp với VUỐT NGẮN ở lớp trong.

Trước khi thao tác cần chuẩn bị về thủ thuật và tư thế như sau:

Thủ thuật: Tạo cho bàn tay được mềm mại và nóng ấm bằng các động tác nắm vào mở ra nhiều lần, khi các ngón tay hết cứng ngượng thì mới tiến hành thao tác.

Tư thế: Căn cứ vào trọng khu, tức là khu vực nhiệt độ cao nhất trên hệ cột sống mà áp dụng các tư thế thích hợp.
a) Trọng khu ở vùng cổ từ C1 đến C7 thì áp dụng tư thế Ngồi đầu cúi gục.
b) Trọng khu ở vùng lưng trên từ D1 đến D7 thì áp dụng tư thế Ngồi ngay lưng.
c) Trọng khu ở vùng giữa lưng từ D8 đến D12 thì áp dụng tư thế Ngồi cong lưng.
d) Trọng khu ở vùng thắt lưng từ L1 đến L5 thì áp dụng tư thế Ngồi ngửa người, Đứng cong lưng hoặc Nằm nghiêng.
e) Trọng khu ở vùng hông từ S1 đến S5 thì áp dụng tư thế Nằm sấp, nằm chân co, duỗi, hoặc Ngồi ngửa người.
f) Trọng khu ở vùng cụt thì áp dụng tư thế Nằm sấp.

A. Trình tự thao tác: Trình tự được tiến hành trên các khu vực như sau:
1/ Thao tác ở phía ngoài cơ thẳng lưng để phân định Thể bệnh lí (tức Thể lớn)
2/ Thao tác ở phía trong cơ thẳng lưng vào cột sống (tức rãng sống) để phân định Thể bệnh lí (tức Thể rộng)
3/ Thao tác trên hệ cột sống để phân định loại hình thái bệnh lí của đốt sống (Lồi, Lõm, Lệnh (đơn hoặc liên) và phân định thể (tức Thể hẹp)

B. Hình thức thao tác:
1/ Thao tác dài, nhanh, nông, sâu để có khái niệm ban đầu về các hiện tượng bệnh lí trong phạm vi trọng khu và các vùng tương ứng với trọng khu, lớp ngoài và lớp trong.
2/ Thao tác dài, chậm, nông, sâu để phát hiện về hình thái bệnh lí trong phạm vi trọng khu, lớp ngoài và lớp trong.
3/ Thao tác ngắn, nhanh, nông, sâu để có khái niệm về hình thái lớp có bệnh lí ở lớp trong và lớp ngoài.
4/ Thao tác ngắn, chậm, nông, sâu để xác định hình thái bệnh lí của đối sống và lớp cơ bệnh lí xơ, sợi, dọc, ngang, chéo vvv…

C. Trình tự thủ thuật:
1/ VUỐT TRƯỢT tức là dùng đầu ngón tay vuốt phẩy trượt trên lớp cơ bệnh lí trên một diện hẹp.
2/ VUỐT CHÌM tức là đặt tĩnh ngón tay thao tác trên một diện rộng.
3/ VUỐT DÀI tức là vuốt dọc cột sống và cơ lưng, có những trường hợp vuốt dọc hết cột sống, để có khái niệm ban đầu về các khu vực có hiện tượng bệnh lí (có thể vuốt nhanh, chậm, nông, sâu tùy ý).
4/ VUỐT NGẮN tức là vuốt trên khu vực bệnh lí, thao tác có thể ngắn nhất chỉ trong phạm vi của một đối sống, nhanh, chậm, nông, sâu tùy ý.
5/ VUỐT NÔNG phối hợp thao tác dài, ngắn, nhanh, chậm chủ yếu để phát hiện hình thái bệnh lí khu trú ở lớp cơ ngoài.
6/ VUỐT SÂU phối hợp với thao tác dài, nhanh, khi vuốt chậm có thể vuốt dài hay ngắn, chủ yếu là để phát hiện hình thái bệnh lí khu trú ở lớp cơ trong.
7/ VUỐT NHANH phối hợp với vuốt dài ở lớp ngoài, nông để có thể khái niệm về các khu vực có hiện tượng bệnh lí ở lớp cơ ngoài.
– Vuốt nhanh phối hợp với dài ở lớp cơ trong để có khái niệm về các khu vực có hiện tượng bệnh lí ở lớp cơ trong.
– Vuốt nhanh phối hợp với vuốt ngắn và nông trên khu vực bệnh lí để phát hiện hình thái của những hiện tượng bệnh lí, các đốt sống và cơ lưng ở lớp ngoài.
– Vuốt nhanh phối hợp với vuốt ngắn và sâu trên khu vực bệnh lí để phát hiện hình thái bệnh lí của các đốt sống và cơ lưng ở lớp trong.
8/ VUỐT CHẬM phối hợp với vuối dài ở lớp nông để phát hiện các khu vực bệnh lí khu trú ở lớp ngoài.
– Vuốt chậm phối hợp với vuốt dài ở lớp trong để phát hiện các khu vực bệnh lí khu trú ở lớp trong.
– Vuốt chậm phối hợp với vuốt ngắn ở lớp nông để phát hiện hình thái của đốt sống và cơ lưng ở lớp ngoài
Tóm lại mục đích chủ yếu của thủ thuật VUỐT là phát hiện các hình thái bệnh lí của đốt sống và lớp cơ.

I.3. THỦ THUẬT ẤN

Thủ thuật Ấn là thủ thuật chẩn bệnh được tiến hành thao tác trên lớp cơ bệnh lí khu trú trên hệ cột sống sau khi đã được xác định bằng thủ thuật Vuốt.
Mục đích của thủ thuật Ấn là phát hiện:
– Hình thái lớp cơ bệnh lí: Loại không di động, dầy hoặc mỏng, co cứng hoặc mềm
– Cảm giác: đau hoặc giảm
– Vị trí khu trú: lớp cơ ngoài, lớp giữa hoặc lớp trong để tạo điều kiện cho thủ thuật Vê tiến hành xác định trọng điểm.
– Thủ thuật dùng phầm mềm ở đầu ngón tay (dùng ngón cái hoặc ngón giữa) thao tác trên lớp cơ bệnh lí bằng hình thức Ấn từ lớp cơ ngoài vào lớp cơ trong, nhanh hoặc chậm, nông hoặc sâu để thực hiện yêu cầu trên.

Hình thức thao tác:
1. Thao tác nhanh để có một khái niệm ban đầu về khu vực có hiện tượng bệnh lí khu trú.
2. Thao tác chậm để xác định loại di động hoặc không di động, lớp cơ dầy hoặc mỏng, cứng hoặc mềm.
3. Thao tác nông để xác định hiện tượng bệnh lí khu trú ở lớp cơ ngoài.
4. Thao tác sâu để xác định hiện tượng bệnh lí khu trú ở lớp cơ trong.

Chuẩn bị thao tác:
1. Tư thế vẫn áp dụng tư thế trong thủ thuật Vuốt.
2. Thủ thuật: Dùng ngón cái và ngón giữa búng bật vào nhau năm bảy lần tạo cho ngón co vào duỗi ra được dễ dàng và mềm mại.

Trình tự thao tác:
1. Thao tác ở hai bên cạnh đốt để xác định các hiện tượng đối xứng và mất đối xứng bệnh lí khu trú ở lớp ngoài, lớp giữa hoặc lớp trong.
2. Thao tác ở giữa thân đốt để xác định về hình thái của đốt sống Lồi, Lõm, Lệch (đơn hoặc liên).
3. Thao tác nông để phát hiện hiện tượng bệnh lí khu trú ở lớp ngoài.
4. Thao tác sâu để phát hiện hiện tượng bệnh lí khu trú ở lớp cơ trong.
5. Thao tác nhanh để phát hiện hiện tượng bệnh lí đối xứng và mất đối xứng.
6. Thao tác chậm để phát hiện về hình thái cảm giác và vùng khu trú của hiện tượng bệnh lí.

I.4. THỦ THUẬT VÊ

Thủ thuật Vê là thủ thuật chẩn bệnh được tiến hành sau thủ thuật Ấn.
Mục đích của thủ thuật Vê là xác định trọng điểm khu trú trên hệ cột sống làm cơ sở cho chẩn đoán và phương hướng tác động trị bệnh theo quy định của nguyên tắc trọng điểm trong phương pháp tác động cột sống.
Trọng điểm được quy định bằng hình thái của đốt sống, của lớp cơ đệm, trạng thái về cảm giác và nhiệt độ da.
1/ Về Đốt sống:
– Điểm lồi nhất trên đốt sống Lồi.
– Điểm lồi nhất trên đốt sống Lõm nhất.
– Điểm lệnh nhất trên đốt sống Lệch.
2/ Về lớp cơ:
– Điểm co nhất trong lớp cơ co.
– Điểm cứng nhất trong lớp cơ cứng.
– Điểm dầy nhất trong lớp cơ dầy.
– Điểm dầy nhất trong lớp cơ teo và các loại xơ, sợi vvv…
3/ Về cảm giác: điểm đau nhất trong các điểm đau
4/ Về nhiệt độ: Điểm có nhiệt độ cao nhất trong trọng khu.
Bốn (4) đặc trưng trên đây đều khu trú tại một điểm nhỏ ở trên hệ cột sống gọi là TRỌNG ĐIỂM. Phương pháp tác động cột sống đã căn cứ vào trọng điểm để phân thành loại hình rối loạn (gọi là Loại) để có phương hướng xử lý giải tỏa để trị bệnh.
Thủ thuật Vê dùng phần mềm ở đầu ngón tay đặt trên lớp có bệnh lí đã được xác định bằng thủ thuật Ấn.
Hình thức của thao tác là tác động trên một diện hẹp bằng hình thức VÊ di-di, day-day, xoay-xoay, đẩy-đẩy để xác định trọng điểm đã nêu ở trên, chi tiết như sau:
DI-DI: Di chuyển ngón tay trên lớp cơ bệnh lý để xác định hình thái của đốt sống và lớp cơ bệnh lý Co, Cứng, Mềm
DAY-DAY: Đặt tĩnh ngón tay trên lớp cơ bệnh lí, thao tác day- day tạo cho lớp cơ bệnh lí di chuyển theo yêu cầu để xác định hình thái cơ bệnh lí Dầy, Mỏng, Xơ, Sợi, Teo.
ĐẨY-ĐẨY: Đặt tĩnh ngón tay trên lớp cơ bệnh lí, thao tác bằng hình thức đẩy đẩy để xác định loại di động hoặc không di động.
XOAY-XOAY: đặt tĩnh ngón tay trên lớp cơ bệnh lí thao tác bằng hình thức xoay tròn theo hướng trục, rộng, hẹp, nông, sâu tùy ý để xác định điểm có cảm giác đau nhất trong trọng khu.
Xác định cảm giác trong những trường hợp cơ cường, khi thao tác chỉ cần căn cứ vào hệ cơ và sự phản ứng của tiết đoạn biểu hiện ở những sợi cơ bệnh lí cũng đủ để xác định được điểm có cảm giác đau nhất, không cần phải hỏi người bệnh. Những trường hợp có teo nhược phải căn cứ vào cảm giác của người bệnh, do đó khi thao tác phải hỏi người bệnh để xác định trọng điểm.
Chuẩn bị thao tác: Tư thế: Vẫn áp dụng tư thế trong thủ thật Vuốt.
Thủ thuật không có khâu chuẩn bị riêng khi chuyển từ thủ thuật Ấn sang thủ thuật Vê.
Trình tự thao tác: Các khu vực tiến hành thao tác gồm thân đốt (gồm giữa thân đốt và cạnh thân đốt) và khe đốt.
– Thao tác ở giữa thân đốt để xác định về hình thái lớp cơ bệnh lí và điểm bệnh lí khu trú ở giữa thân đốt hoặc ở phần trên hay phần dưới.
– Thao tác ở cạnh thân đốt để xác định hình thái lớp cơ bệnh lí khu trú ở phía phải hoặc phía trái, trên hoặc dưới.
Khe đốt gồm giữa và cạnh của khe đốt:
– Thao tác ở phần giữa khe đốt để phân biệt hình thái của đốt sống và lớp cơ bệnh lí khu trú ở phần trên và dưới của khe đốt.
– Thao tác ở phần cạnh khe đốt để phân biệt hình thái của đốt sống và lớp cơ bệnh lí khu trú ở phần trên và dưới của khe đốt
– Thao tác ở phần cạnh khe đốt để phần biệt về hình thái của đốt sống và lớp cơ bệnh lí khu trú ở phía phải hoặc phía trái, trên hoặc dưới khe đốt.
CHÚ Ý: Những trường hợp liên đốt cũng phải thao tác theo trình tự trên đây thì mới xác định được trọng điểm một cách chính xác.
Cách thức của thủ thuật được tiến hành theo trình tự:
1/ Vê di-di để xác định lớp cơ co, cứng, mềm.
2/ Vê day-day để xác định loại lớp cơ dầy, mỏng, xơ, sợi, teo.
3/ Về đẩy-đẩy để xác định loại di động và không di động.
4/ Vê xoay-xoay để xác định điểm có cảm giác đau nhất trong trọng khu.

I.5. THỦ THUẬT MIẾT (Là thủ thuật bổ sung, sẽ được chuyển tải sau)

Trân trọng cảm ơn.
ThS – LY Nguyễn Đình Thảo (Thảo Sen Nam)
Thông tin góp ý xin liên lạc theo địa chỉ email: sennam.thao@gmail.com Điện thoại: 0918 260 196
FB: tacdongcotsongvietnam

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *