Tìm hiểu về xem mạch

Lương y, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Khai

Tổng giám đốc Tập đoàn Y dược Bảo Long hân hạnh giới thiệu về mạch lý:

Trên cơ thể người có nhiều chỗ động mạch nổi sát với da thịt. Người xưa đã căn cứ vào biểu tượng của mạch để đánh giá sự sống, sức khỏe thực tại và bệnh tật.

Đặc biệt là đã tìm được bộ mạch “Thốn khẩu” ở hai bên cổ tay. Dựa vào trạng thái hình tượng mạch năm 220 trước công nguyên Đại y sư Vương Thúc Hòa đã tập hợp và xây dựng phương pháp luận giáo khoa về mạch lý một cách hoàn hảo.

Hình tượng, sức đập, trạng thái biểu hiện của mạch đã được phân thành 34 loại mạch trong đó có 27 mạch bệnh và 7 mạch tuyệt. Bảy mạch tuyệt gồm: Ngư tường, Ốc lậu, Tước trác, Đạn thạch, Hà du, Phù phí, và Giải sách. Khi phát hiện mạch của bệnh nhân thuộc bảy mạch này thì thầy thuốc thường khước từ việc cho thuốc mà còn biết được ngày giờ bệnh nhân qua đời. Dựa vào 27 trạng thái mạch bệnh và vị trí của mỗi mạch trên bộ Thốn khẩu mà chẩn đoán tình trạng bệnh lý của tạng phủ bên trong cơ thể theo: Bát cương (âm dương, hàn nhiệt, hư thực, biểu lý).

Xem mạch là bằng tinh thần và tư duy thông qua súc giác nhạy cảm của đầu ngón tay khi tác động lên bộ mạch Thốn khẩu để khảo sát, những tín hiệu thần trí, sinh thái và tình trạng hoạt động của tạng phủ biểu hiện qua 34 thể mạch, rồi căn cứ vào lý thuyết mạch lý và kinh nghiệm để phân biệt trạng thái thường và khác thường mà chẩn đoán bệnh.

Khi xem mạch để có kết quả chẩn đoán tốt thầy thuốc rất cần kết hợp với 3 phép chẩn: Vọng chẩn, Văn chẩn và Vấn chẩn (tức là chẩn đoán qua hình sắc da, hình thái: Nghe, ngửi, nếm và hỏi bệnh nhân…) Tuy nhiên, qua kiến thức uyên thâm về mạch lý kết hợp với bề dày kinh nghiệm thầy thuốc có thể chỉ xem mạch cũng chẩn đoán được bệnh nhưng rất vất vả và mất nhiều thì giờ.

Khi đã được bệnh nhân cho biết là bị đau dạ dày, bị đau đầu, bị mất ngủ… nhưng vẫn phải xem mạch để nắm rõ nguyên nhân gây bệnh mà trị tận gốc và để biết bệnh ấy ở mức nặng hay nhẹ, ở thể hàn hay nhiệt (nếu ở thể hàn thì khi kê đơn phải dùng vị thuốc nóng ấm, ở thể nhiệt phải dùng vị thuốc lạnh, mát). Đồng thời còn tìm hiểu tình trạng bệnh ở biểu hay lý (vừa mới nhập vào hay đã ẩn sâu trong tạng phủ) và sự liên quan của các tạng phủ khác với căn bệnh đã biết… để rồi ra phương thuốc thích hợp cho chính bệnh nhân đang được xem mạch.

Y lý Đông phương có câu: “Thầy thuốc khổ vì không biết bệnh, bệnh nhân khổ vì không biết thuốc”. Vì vậy, sự hợp tác chặt chẽ giữa thầy thuốc và bệnh nhân sẽ đem lại kết quả tối ưu trong việc khám và chữa bệnh.

Nếu bệnh nhân dấu bệnh, kể bệnh không trung thực thầy thuốc rất dễ bị nhầm, dẫn tới những điều đáng tiếc có thể xảy ra.

Đối với phương pháp xem mạch ngoài việc phân biệt được bệnh lý, sinh tử còn có thể biết vô vàn những kiến thức mà người chưa được học mạch không thể ngờ tới. Ví như có thể biết được phụ sản mang thai trai hay gái và tình trạng của thai nhi. Chẳng hạn như:
– Mạch tay trái đi phù đại sinh trai. Mạch tay phải đi phù đại sinh gái. Mạch tay trái trầm thực sinh trai. Mạch tay phải trầm thực sinh gái.
Cả hai tay trái phải mạch đều đi trầm thực thì sinh hai con trai (song thai).
Cả hai tay trái phải mạch đều đi phù đại thì sinh hai con gái (song thai).
Tả thốn mạch Phù Đại sinh trai. Hữu thốn mạch Trầm thực sinh gái. Bộ Xích tay trái lớn hơn tay phải sinh gái. Tay trái mạch đi hoạt, thực, đại sinh gái.
Cả hai tay phải trái đều đi hoạt, thực, đại thì sinh song thai.

Triều Nguyễn thời Tự Đức năm 1886 vợ của một vị đại quan đang mang thai bỗng đau bụng dữ dội, mình mẩy thâm tím, thở dốc rất là nguy kịch. Với gia thế quyền lực, chỉ một lúc sau các thầy thuốc đã đến đầy nhà mà rồi đều bó tay. Lúc này thầy Phạm Kim Giám ngự y nội cung được mời đến. Xem mạch xong Thầy thầm nghĩ các vị thầy thuốc trước uy quyền đã lúng túng mà quên y lý nên bó tay. Thế rồi Thầy thản nhiên ghi đơn:

Nhân sâm 2 chỉ; Can khương 2 chỉ, sắc uống. Sau 1 giờ uống tiếp đơn thuốc Phụ tử 3 chỉ; Sinh khương 1 chỉ.

Nhìn đơn thuốc và liệu trình uống thuốc mọi người đều sửng sốt: Phải chăng thầy Giám nhầm lẫn hay bất cần sách thuốc (vì sách có câu: “phúc thống phục nhân sâm tắc tử”. Vả lại phụ tử can khương là 2 vị thuốc kỵ thai bởi đại nhiệt nếu theo lý mà xét thì uống thang thuốc này chả chết cũng trụy thai còn gì, nhưng vì danh tiếng và uy tín của thầy Giám nên mọi người phải lặng thinh mà y hành. Uống thuốc xong Một lúc bệnh nhân chuyển dạ và trụy ra cái thai đã chết xám đen từ bao giờ. Sau đó thì sản phụ thấy hết đau bụng và khỏe trở lại. Thầy Giám dặn trong bụng sản phụ hãy còn một thai nữa là con trai tới ngày sinh sẽ mẹ tròn con vuông thôi! Và rồi quả đúng như vậy.

– Thầy Phạm Kim Giám lý giải rằng: Theo mạch lý mạch bệnh nhân các bộ ở hai tay đều đi hoạt, thực, đại và nhanh nhưng riêng mạch Hữu Xích lại khác thường, mạch Tượng như chim sẻ mổ (Tước trác). Theo mạch mà luận thì cả hai tay mạch hoạt, thực, đại là có song thai nhưng mạch Tước trác thì biểu hiện mạch tuyệt (một trong thất quái mạch). Vì vậy phải có một sinh thể đã chết, nhưng là mẹ hay con. Nếu cả hai thai đã chết thì làm sao còn tồn tại mạch hoạt, thực, đại. Nếu bà mẹ sẽ chết thì làm sao bộ Thốn và bộ Quan còn có mạch hữu lực. Từ đó mà luận thì chỉ có thể là trong hai thai có một thai đã chết. Bởi thế mà làm thai còn lại động gây đau bụng và nguy kịch. Vấn đề bây giờ là phải trục cái thai đã chết ra, bảo tồn thai sống và bà mẹ.

– Cho uống nhân sâm để bổ khí và an cái thai còn sống và trợ sức cho cả mẹ và thai sống. Vì mạch Tước trác ở bên mệnh môn hỏa nên phải dùng Can khương có tính chất thủ nhi bất tẩu (dừng mà không chạy), vả lại nó có vị cay, tính nóng không độc hồi phục nguyên dương khi đã muốn tuyệt.
Sau đó cho uống tiếp Phụ tử, Sinh khương. Phụ tử thông đạt 12 kinh lạc tuy là thuốc kỵ thai nhưng sách có câu: “Hữu cố vô vẫn” (tức là khi có tật thì không có hại). Do đó Phụ tử đã làm nhiệm vụ hồi dương, thông đạt để giữ thể lực và trục cái thai chết ra ngoài. Còn Sinh khương lúc này có tác dụng ổn cố tân dịch và thông khiếu phát hãn để trục tà khí. Mặt khác cũng còn giải thích thêm rằng câu: “Phúc thống phục nhân sâm tắc tử” câu này chỉ đúng với trường hợp đau bụng ở thể hàn hoặc do khí nghịch thôi, còn cái đau bụng của động thai là chuyện khác

Ngày 25 tháng 9 năm 2015
Lương y Ts Nguyễn Hữu Khai

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *