Tứ chẩn và bát cương – Văn chẩn, thiết chẩn

Phần 5 trong Câu chuyện Đông Y (Tập 2) – Tác giả Đỗ Đức Ngọc

QUAN SÁT NGHE BẰNG TAI (VĂN CHẨN):

Mục đích của văn chẩn: Là nghe giọng nói ,tiếng ho, hơi thở của bệnh nhân  mạnh  hay  yếu ,âm thanh  cao hay thấp, to hay nhỏ, nghe hơi thở yếu hay mạnh, dài hơi hay ngắn hơi, hoặc hơi thở bất bình thường do đau đớn..rồi phải theo sự hướng dẫn của kim chỉ nam đông y là bát cương, gom những dữ kiện thu lượm được sắp xếp phân phân biệt bệnh do chứng nào làm ra. Thí dụ như:

TIẾNG NÓI VÀ HƠI THỞ:

1.Thuộc âm chứng  : Nói nhỏ, yếu, thấp, ít nói, không thích nói, muốn nằm yên. Hơi thở ngắn, nhẹ, yếu.

2-Thuộc dương chứng: Nói to, mạnh, rổn rảng, lắm lời ưa nói nhiều, nói cuồng, la hét, chửI mắng. Hơi thở to, mạnh, gấp, kéo đờm .

3-Chứng phế khí hư: Hơi thở ngắn, kéo suyễn, tự ra mồ hôi.

Chứng phế khí thực: Hơi thở nghẹt, đờm nhiều, tức ngực, xây xẩm, nằm không yên.

Tạng phế hư, tổn thương: Thở thiếu, hụt hơi, da lông không tươi tốt.

Tạng phế thực, tổn thương: Thở nghịch khí làm ho suyễn.

Trường vị thực chứng: nói xàm, mê sảng.

4-Chứng tâm hư: Hay bi thương.

Chứng tâm thực:Thần thất thường, cười nói hoài.

Chứng can thực: hay cáu giận.

5- Chứng Hàn: Ít nói, thở khẽ, nhẹ.

Chứng Nhiệt: Nói nhiều, thở mạnh, bực bội.

6-Biểu chứng: Bệnh còn nhẹ, tiếng nói bình thường, có hơi sức.

Lý chứng: Yếu sức, ít nói, mệt mỏi.

CƯỜNG ĐỘ PHÁT ÂM:

Khi phát âm có nhanh có chậm, có cao có thấp, có nhấn âm gằn mạnh từng lúc, cường độ mạnh yếu đều để lộ ra tâm trạng của người bệnh như:

Nhấn âm nhiều trong câu nói: Tâm càng bị giao động, tình cảm thay đổi bất thường..

Cao độ cao, cường độ mạnh: là tức giận, bực bội, ghen ghét.

Cao độ qúa cao như thất thanh: là sợ hãi, khiếp đảm.

Cao độ thấp: là lo lắng , lo sợ.

Cường độ nhẹ và yếu: biểu lộ lo lắng, ngại ngùng.

3 -PHƯƠNG PHÁP ĐẶT CÂU HỎI (VẤN CHẨN):

Mục đích của vấn chẩn: Là đặt những câu hỏi  để có thêm những dữ kiện biết rõ thêm về  vấn  đề  liên  quan đến  hô hấp, tuần hoàn ,tiêu hoá, bài tiết, sinh dục ,những sở thích về ăn hợp với vị nào, như mặn hợp với thận, ngọt hợp với tỳ, chua hợp với gan, cay hợp với phế ,đắng hợp với tim..,thích uống nước nóng ấm hay nước lạnh mát, thích mặc ấm hay mát.,mầu nước tiểu, mầu phân, dạng phân cứng hay mềm hoặc lỏng nát, sống sít..để biết rõ thêm về tình trạng bệnh quy về bát cương: âm dương, hư,thực, hàn, nhiệt, biểu lý.

Thầy thuốc giỏi, có kinh nghiệm thuộc bậc thượng công, chỉ cần vọng chẩn và văn chẩn đã có thể xếp những dữ kiện của những dấu hiệu lâm sàng gom vào thành một bệnh chứng do nguyên nhân nào làm ra. Sau đó đối chiếu với cả ngàn bệnh chứng đã thống kê được do kinh nghiệm tích lũy của cổ nhân để lại thành môn học ĐỊNH BỆNH bằng dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng học của đông y . Khi nào có những điểm còn nghi ngờ mới đặt câu hỏi với bệnh nhân để xác nhận lại sự định bệnh của mình có sai hay không. Các câu hỏi cũng theo kim chỉ nam là bát cương về các vấn đề: Đại, tiểu tiện, ăn uống, ngủ nghỉ, sở thích..

1.Về âm chứng: Mình mát, chân tay lạnh, bụng đau ưa xoa nắn, ngủ thích đắp chăn.

Đại tiện: thì phân hôi tanh, nhão.

Tiểu tiện: Tiểu vặt nhiều lần, nước trong, nếu hư chứng tiểu ngắn, ít.

Ăn: kém ăn, không cảm giác, mùi vị. Uống: Không khát, ưa uống nước nóng.

2.Về dương chứng: Mình nóng, chân ấm, bụng đau không

ưa xoa nắn, ngủ không thích đắp chăn. Đại tiện: Phân cứng, hôi khắm nồng nặc. Tiểu tiện: Tiểu ngắn, ít, nước tiểu đỏ.

Ăn: Không muốn ăn, miệng khô khát.

Uống: Thích uống nước nhiều, nước mát lạnh.

3-Về hư chứng : Nếu khí hư ưa ra mồ hôi, huyết hư khô miệng, ra mồ hôi trộm.

Đại tiện: Đi cầu ra nước lỏng:do khí hư. Đi cầu không được, như bón giả do thận khí hư., thận khí hư nặng hay đi tiêu chảy ban đêm.

Tiểu tiện: Tiểu không cầm dứt, Di tinh, đái són do thận hư.

Ăn: không muốn ăn do khí hư. Ăn không tiêu bụng đầy do thận hư.

Uống: Thích uống nước nóng ấm nhưng không dám uống sợ làm đầy bụng.

Ngủ: Mất ngủ, suy nhược, đêm cảm thấy nóng do chứng huyết hư, gân máy động , thịt co giật. Nặng thì chân tay co giật rút đau.

Nếu chứng tâm hư: hay bi thương.

Nếu Can hư thì mắt mờ, âm nang teo, co rút gân, hay sợ.

Nếu tỳ hư thì thân thể nặng nề biếng vận động, ăn không tiêu, đầy bụng, hay lo buồn.

4-Về thực chứng:

Nếu phế khí thực  thì đờm nhiều, nằm không yên, xây xẩm, chóng mặt.

Nếu vị khí thực thì bụng đầy, ưa uạ mửa, ợ hôi thối, nấc cục, nước chua ở họng.

Nếu can khí thực thì nhức đầu, mờ mắt.

Nếu chứng huyết thực ở thượng tiêu thì hông, ngực, tay, vai đau. Ở trung tiêu thì bụng bị gò thắt. Ở hạ tiêu thì bụng dưới đau như dùi đâm một chỗ cố định.

Nếu tạng can thực làm đau sườn bụng.

Nếu tỳ thực thì bụng đầy trướng, bí đại tiểu tiện, mình sưng phù.

Nếu tạng thận hư thì phủ hạ tiêu bế tắc làm bụng đau tức.

5-Về hàn chứng: có dấu hiệu đờm lỏng trắng, tinh thần trằm tĩnh uể oải, tay chân lạnh, bụng lạnh đau.

Đại tiện: lỏng nhão.

Tiểu tiện: nhiều, nước trong.

Ăn: Ưa thức ăn nóng, hay nhổ nước bọt nhiều. Uống: Không khát, ưa uống nước nóng.

Ngủ: Ưa rút chân nằm co, sợ lạnh.

6-Về nhiệt chứng: có dấu hiệu đờm vàng đặc ,tinh thần bức rứt không yên.Tay chân ấm nóng.

Đại tiện:Bón, bí kết, phân cứng thành cục mấy ngày không ra. Bụng đau nổi gò cục.

Tiểu tiện: tiểu ít, nước tiểu đỏ.

Ăn: Ưa thức ăn mát, ít nhổ nước bọt.

Uống: Hay khát thích uống nước lạnh mát.

Ngủ: hay lăn lộn, ưa nằm ngửa duỗi thẳng chân.

7-Về biểu chứng: là bệnh nhẹ còn ở ngoài kinh mạch , chỉ có ở da, lông , kinh lạc. Hỏi triệu chứng có ớn lạnh, phát nóng, đau đầu, mình mẩy, tay chân nhức mỏi không ?

Bệnh thuộc chứng biểu hàn: Nếu phát nóng ớn lạnh.

Bệnh thuộc chứng biểu nhiệt: Nếu sợ gió, mình nóng, có mồ hôi hoặc không .

Bệnh thuộc chứng biểu hư: Nếu sợ gió, tự ra mồ hôi.

Bệnh thuộc chứng biểu thực: Nếu da lông không ra mồ hôi.

8-Về lý chứng: là bệnh đã xâm nhập vàp tạng phủ. Có triệu chứng nóng dữ dội, thần chí hôn mê li bì, phiền táo, khát, tức ngực, bụng đau.

Bệnh thuộc lý hàn: Nếu sợ lạnh, không khát, ói mửa, tiêu chảy, ăn buồn nôn, tứ chi lạnh .

Bệnh thuộc lý nhiệt: Nếu phát nóng, miệng khô khát ít nước miếng, mắt đỏ, môi đỏ, tâm phiền.

Bệnh thuộc chứng lý hư: Nếu chi lạnh, ít nói, mệt mỏi, hồi hộp, xây xẩm, đại tiện lỏng.

Bệnh thuộc chứng lý thực: Nếu táo bón, bụng đầy, ra mồ

hôi tay chân , thở thô, nói to, tâm phiền.

4-PHƯƠNG PHÁP THỬ NGHIỆM (THIẾT CHẨN):

A-Mục đích của thiết chẩn:

Theo phương pháp đông y cổ điển là áp dụng 28 loại mạch khác nhau để bắt mạch của 12 đường kinh trên cổ tay xem tình trạng diễn tiến của bệnh thuộc Khí hay Huyết hay Đàm, thuộc Âm hay Dương, thuộc Tạng hay Phủ nào bệnh, Hư hay Thực, Hàn hay Nhiệt, Biểu hay Lý, bệnh đang tăng hay giảm.. tất cả mọi dữ kiện cũng quy về tiêu chuẩn bát cương để phân tích được bệnh tình hiện tại trong  lúc  khám  thuộc  chứng  nào,  để  so  sánh  với  ba phương pháp trên là vọng, văn, vấn có phù hợp không. Nhiều khi bắt mạch do chủ quan không so sánh với ba phương pháp kia có thể dễ sai lầm. Đôi khi bệnh nặng thuộc nan y nửa hư nửa thực, nửa hàn nửa nhiệt, nửa biểu nửa lý, nửa âm nửa dương, chứng không phù hợp mạch, cho nên nếu muốn đạt được trình độ bắt mạch giỏi không sợ sai lầm phải có thực hành trong ba bốn chục năm trở lên và lúc nào cũng phải biết đối chiếu với những kinh nghiệm cổ nhân qua những tài liệu Dấu hiệu triệu chứng khác.

B-Mục đích của thử nghiệm:

Theo phương pháp mới ở thời đại khoa học ngày nay, chúng ta cũng có thể thử nghiệm theo phương pháp của tây y để biết những dấu hiệu lâm sàng nào mà tây y xét nghiệm được ,so với thống kê của đông y để biết thế nào là chứng hàn, thế nào là chứng nhiệt qua việc thử máu, thử nước tiểu, đo mạch và đo huyết áp, đo điện tâm đồ, điện não đồ . Thí dụ:

1-Nếu bệnh do Âm chứng:

Có dấu hiệu: Sắc mặt trắng mét, xanh hoặc tối nhạt hay sậm. Tinh thần lờ đờ không linh hoạt. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trơn. Thân mệt mỏi, yếu, nặng nề, nằm co. Những dấu hiệu này có thể làm ra nhiều bệnh, theo tây y sẽ có nhiều tên bệnh khác nhau, có vi trùng hay không ,

nhưng đông y xếp vào loại âm chứng gồm mạn tính, hư, hàn, yếu, trầm tĩnh, ức chế, công năng trao đổi chất giảm, hướng bệnh vào trong.

2-NẾU BỆNH DO DƯƠNG CHỨNG:

Có dấu hiệu: Sắc mặt ửng đỏ hoặc đỏ hồng. Tinh thần cuồng táo chẳng yên. Chất lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi vàng khô hay sậm, nặng thì miệng lưỡi rách nứt, rêu lưỡi đen mọc gai. Thân nóng nẩy bực bội, bức rứt, ưa mát. Tên bệnh theo tây y có nhiều tên khác nhau, có vi trùng hay không. Nhưng đông y xếp bệnh thuộc loại dương chứng gồm cấp tính, thực nhiệt, hưng phấn, trao đổi chất dư thừa, hướng bệnh ra ngoài.

Khi thầy thuốc đông y khám một bệnh nhân có những dấu hiệu trên,và kết luận là chứng hàn hay chứng nhiệt, thì gửI bệnh nhân đi xét nghiệm theo tây y thấy có những dữ kiện khác biệt để phân biệt như sau:

Chứng hàn:

Hồng cầu huyết sắc tố thấp

Tiểu nhiều làm uré máu giảm thấp

Nhịp mạch chậm, áp huyết thấp

Gamma globulin thấp, giảm khả năng chống bệnh, suy nhược, chi lạnh.

Thần kinh bị ức chế, trầm cảm.

Chứng nhiệt:

Hồng cầu huyết sắc tố cao

Tiểu ít, uré máu tăng

Nhịp mạch nhanh, áp huyết tăng

Gamma globulin cao

Chân tay nóng.

Thần kinh hưng phấn, kích động, tăng nhiệt

C-Cách  thử  nghiệm  của PHƯƠNG PHÁP KHÍ CÔNG CHỮA BỆNH:

Đối với phương pháp Khí Công Chữa Bệnh có ba cách thử nghiệm khác nhau để tìm những dữ kiện quy về BÁT CƯƠNG để định ra được bệnh thuộc chứng nào, vừa gọi ra được bệnh bằng tên bệnh theo tây y, vừa chính xác, nhanh, và phân biệt được bệnh thuộc chức năng hoặc bệnh thuộc cơ sở.

Cách thử nghiệm thứ nhất: QUY KINH CHẨN PHÁP Quy kinh chẩn pháp dùng để khám tình trạng hư-

thực của 24 đường kinh trên 10 ngón tay ngón chân thuộc lục phủ ngũ tạng, bên thuộc chức năng, bên thuộc cơ sở, Quy kinh chẩn pháp thay cho cách bắt 28 bộ mạch cổ điển của đông y.

Cách thử nghiệm thứ hai:Khám bệnh bằng huyệt trên lưng, và các huyệt liên quan tương ứng với tình trạng đang bệnh để biết hư thực, hàn nhiệt, biểu lý.
Cách thử nghiệm thứ ba: Khám bằng các động tác tập thể dục khí công để biết bài nào tập được, bài nào không thể tập được do bị bệnh gì .

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *