Tứ chẩn và bát cương – Vọng chẩn

Phần 4 trong Câu chuyện Đông Y (Tập 2) – Tác giả Đỗ Đức Ngọc

ĐÔNG Y HỌC là một khoa học tổng hợp 4 bộ môn, gồm khoa học quan sát, khoa học thử nghiệm, khoa học thống kê và khoa học thực nghiệm. Cả bốn môn khoa học này là một mắt xích có liên quan cái nọ với cái kia đều nhờ vào một tiêu chuẩn thống nhất độc đáo, như một kim chỉ nam hướng dẫn mọi phát minh tìm tòi, học hỏi về khoa đông y học gọi là BÁT CƯƠNG.

BÁT CƯƠNG là 8 yếu tố mẫu mực, chính xác dùng làm cương lĩnh trong phương pháp khám bệnh, định bệnh để tìm nguyên nhân gây bệnh và chữa bệnh của đông y, đó là yếu tố Âm-Dương, Hư-Thực, Hàn- Nhiệt, Biểu-Lý, trong đó yếu tố âm tượng trưng cho huyết và các kinh âm thuộc tạng, yếu tố dương tượng trưng cho khí và các kinh dương thuộc phủ.

Về phần khám bệnh, đông y dùng phương pháp tứ chẩn cổ điển là Vọng, văn, vấn, thiết (nhìn, nghe, hỏi, bắt mạch), trong đó vọng và văn (nhìn và nghe) thuộc về khoa học quan sát. Quan sát để thu nhặt những dữ kiện có được bằng những dấu hiệu lâm sàng do nhìn và nghe, gom góp lại thành hệ thống rồi thống kê sắp vào tiêu chuẩn bát cương. Khi bắt mạch hay sờ nắn hay khám trên da, trên tay chân, trên huyệt cũng cần phải có phương pháp thuộc về khoa học thử nghiệm, những kết qủa thử nghiệm này cũng là những dữ kiện cần thiết để sắp vào tiêu chuẩn bát cương. Sau đó phân tích theo bát cương trên lâm sàng, so sánh với những kết qủa đã có giá trị tích lũy được hàng ngàn năm của cổ nhân trong môn bệnh chứng lâm sàng học, nếu có điều gì còn nghi ngờ thắc mắc cần phải hỏi thêm bệnh nhân, khi đặt câu hỏi (gọi là vấn) cũng phải theo phương pháp để thu nhặt thêm dữ kiện sắp loại theo bát cương, thuộc về khoa học thống kê. Như vậy phương pháp khám bệnh của đông y cũng đã bao gồm ba môn khoa học là quan sát, thử nghiệm và thống kê.

Về phần định bệnh, là môn khoa học thống kê, sau khi gom lại các dữ kiện của phương pháp tứ chẩn thì sắp lại thành kết luận những diễn biến bệnh tình và so sánh nó thuộc vào một chứng bệnh nào trong hàng ngàn chứng bệnh đã được thống kê và liệt kê vào trong tự điển bệnh chứng của đông y.

Về  phần  chữa  bệnh,  là  môn  khoa  học  thực nghiệm, giống như toán học, phương pháp khám bệnh là chọn nhặt dữ kiện theo một tiêu chuẩn đề ra là bát cương giống như một phương trình. Phần định bệnh giống như đặt phương trình, có nghĩa là thống kê các dữ kiện dấu hiệu bệnh nó thuộc về những cương nào, mang tên là chứng bệnh gì và phần chữa bệnh là làm những gì ngược lại với chứng để lập lại sự quân bình gọi là đối chứng trị liệu  tức là giải phương trình của một bài toán. Nếu phần chọn nhặt dữ kiện theo tiêu chuẩn là phương trình mà chọn ẩn số sai, đặt phương trình sẽ sai thì giải phương trình cũng sai. Bởi thế phần chữa bệnh đúng và có kết qủa hoàn toàn nhờ vào phần định bệnh. Định bệnh tìm ra chứng bệnh. Chữa bệnh là cách đi ngược với chứng gọi là đối chứng trị liệu để lập lại quân bình khí hóa của tổng thể ngũ hành. Định bệnh đúng phải nhờ vào cách khám bệnh bằng phương pháp tứ chẩn để thu nhặt đầy đủ dữ kiện không được bỏ sót. Trước hết chúng ta nghiên cứu qua về cách khám bệnh theo tứ chẩn của đông y.

Phần một: Phần khám bệnh

Nếu có một bệnh nhân khai  bệnh:’’ Tôi hay bị mệt, không biết là bệnh gì, nhờ thầy khám và chữa cho ‘’.

Lời khai bệnh trên qúa đơn gỉản, rất khó chẩn đoán. Có thể thầy thuốc phải đặt trong đầu nhiều giả thuyết, mỗi giả thuyết của một loại bệnh sẽ có nhiều triệu chứng bệnh khác nhau ,và cần phải đặt ra nhiều câu hỏi với bệnh nhân mới tìm ra được nguyên nhân, đôi khi cũng chưa chắc chắn. Cho nên muốn tìm ra được  nguyên nhân, Tây y cần phải có những số liệu rõ ràng của các kết qủa xét nghiệm như đo tim mạch, chụp X-quang, siêu âm, thử máu, phân, nước tiểu..

Còn đối với Đông y cũng cần xét nghiệm  như Tây y, nhưng không bằng máy móc mà xét nghiệm tìm ra sự bất bình thường của cơ thể bằng Phương Pháp Tứ Chẩn là Vọng chẩn, Văn chẩn, Vấn chẩn, Thiết chẩn  để tìm ra được tạng phủ tổn thương thực thể hoặc xáo trộn chức năng.

Phần quan sát là nhìn (vọng)và nghe (văn) thuộc hai phần trong bốn tiêu chuẩn khám bệnh theo tứ chẩn của đông y là vọng ,văn, vấn, thiết.

1-Quan sát nhìn bằng mắt (vọng chẩn):

Là quan sát hình, khí, thần, sắc của bệnh nhân. Phải quan sát bằng mắt để tìm ra được những dấu hiệu khác lạ về hình thể, khí lực ,tinh thần và mầu sắc (Hình, khí, thần, sắc) của bệnh nhân đã hiện ra trên các bộ vị ở cơ thể khi có bệnh. Chỉ cần ghi nhận những gì mình thấy được từ trên xuống dưới đầy đủ để có thể chẩn đoán bệnh dễ dàng chính xác.

Hình: Là quan sát thân thể bệnh nhân khỏe mạnh hay yếu, mập hay gầy..

Khí:Là quan sát mặt, da, tai, tóc, móng, răng.. còn tươi nhuận, mềm hay khô cứng, lỗ chân lông kín hay hở.,.

Thần: Là quan sát tinh thần bệnh nhân còn vui vẻ hoạt bát hay chậm chạp ,hoặc lo buồn đau đớn, cáu giận.

Sắc: Là quan sát mầu sắc hiện ra ở mặt ,da, tay chân, sáng hay tối, đậm hay nhạt, ở mắt xem huyết đủ hay thiếu, mầu sắc hiện ra ở tai, ở lưỡi và bộ vị trên mặt có thuận hay nghịch với ngũ hành. Mầu sắc trong phần quan sát chẩn đoán bệnh trong đông y được quy định như sau:

Mu đỏ: thuộc hỏa, tượng trưng cho khí huyết nhiệt, cho tim mạch và tiểu trường.

Mu vàng: thuộc thổ, tượng trưng cho khí thấp, cho tỳ vị (lá mía và bao tử).

Mu trắng: thuộc kim, tượng trưng cho khí khô táo, cho phế và đại trường .

Mu đen: thuộc thủy, tượng trưng cho khí hàn, cho thận và bàng quang.

Mu xanh: thuộc mộc, tuợng trưng cho khí phong, cho gan và mật.

Mầu sắc hiện ra ở mặt cho biết mức độ bệnh:

Bệnh nặng hay nhẹ (thuộc biểu hay thuộc lý): bệnh còn ở ngoài tạng phủ hay đã vào tạng phủ) là do mầu ấy nhạt hay đậm.

Bệnh thuộc hư hay thực: do mầu sắc ấy tối bầm hay sáng tươi.

Bệnh thuộc hàn hay nhiệt: do mầu sắc trắng nhiều hay đỏ nhiều.

Bệnh làm đau: do sắc hiện trên mặt nhiều mầu xanh hơn các mầu khác.

1.QUAN SÁT ĐẦU MẶT, CỔ GÁY:

Hình thể: Hình thể của đầu mặt tượng trưng cho hình thể của qủa tim, đông y dùng để tìm ra những bất thường của qủa tim hiện ra trên đầu mặt xem nó có một hay nhiều những yếu tố như:

Khuôn mặt hốc hác: là suy nhược , kém hấp thụ, suy dinh dưỡng.

Khuôn mặt tròn đầy: dinh dưỡng đầy đủ, khỏe mạnh. Khuôn mặt sưng phù: Cơ thể bị giữ nước, nhiều thủy thiếu hỏa để thủy hóa khí.

Da mặt dầy: là khí yếu không tuần hoàn ra đến ngoài da.

Da mặt mỏng: là khí mạnh tuần hoàn ra đến da.

Da có mụn hay chấm xám đen không có ngòi, sờ vào mụn không đau gọi là mụn âm do khí dương suy.

Da có mụn nhỏ chấm đỏ hoặc rôm sảy, có ngòi, sờ vào đau gọi là mụn dương thực.

Hai bên mặt to bằng nhau: Cơ sở của qủa tim tốt.

Mt bên dầy bên hóp hoặc có ngấn vạch chia má trên má dướI thành hai phần: đó là dấu hiệu vách thành tim bị dầy làm hở van tim phía bên má dầy, hẹp van tim bên má bị hóp. Có thể xác nhận chắc chắn tình trạng bệnh bằng một trong các dấu hiệu như cảm thấy đau bên má khi tay đụng vào như kim châm đụng phải, hay thỉnh thoảng gân mặt hơi giựt nhẹ.

Cằm có nọng thịt trông to hơn phần ở trán: đó là dấu hiệu của bệnh cao áp huyết, nếu dùng tay gõ vào cái nọng đó thấy đau nhiều.

Mt và mắt đỏ: dấu hiệu sốt do tâm nhiệt.

Cằm và cổ đỏ: đó là dấu hiệu sốt do thận nhiệt.

Trước cổ họng: Nhìn thấy mạch đập nhanh ở cổ phụ nữ, có thể đang có thai. Có những nơi u hay phình ra là dấu hiệu của bệnh thyroĩde, bướu hạch. Ở hai bên cổ dưới chân tai sưng đau là cơ thể nhiễm trùng..

Sau gáy: Người không mập mà sau gáy có khối thịt u lên như mập là dấu hiệu cao áp huyết.

Khí lực:  Nhìn mặt thấy da mặt sáng là sức khỏe đủ, da mặt tối là sức khỏe yếu.

Tinh thần:  Nhìn mặt xem vui tươi hay ủ rũ, lo lắng, sợ

sệt, mệt mỏi, buồn chán.

Mu sắc: Sắc mặt hồng hào hay nhợt nhạt trắng, trắng xanh, xám, sậm, đen ,mốc như mầu chì, hay có những chỗ trắng, chỗ đỏ, đỏ sáng, đỏ đậm, đỏ tối chìm dưới da, có vết nám hoặc quầng thâm ở má, ở mắt, hoặc mầu sắc trên mặt hồng hào khỏe mạnh, hoặc hoàn toàn đỏ như đang bị sốt…

2.QUAN SÁT hai bên má:

Má là bộ vị chỉ về phổi:

Má nào đỏ, khác hẳn với mầu sắc bình thường của các nơi khác trên mặt, hay chỉ đỏ đều ở hai bên má là nhiệt, còn các bộ vị khác trên mặt không đỏ, hoặc bên má trắng mét là phổi hàn, trắng xanh hoặc sạm đen là phế thận bệnh.

Má có bên trắng bên không hay cả hai bên đều trắng hơn các nơi khác: đó là dấu hiệu của bệnh phổi, bên nào trắng nhiều là bên đó bệnh nhiều.

Má bên trái đỏ hơn các chỗ khác: đó là dấu hiệu bệnh sốt do can nhiệt.

Má bên phải đỏ: đó là dấu hiệu bệnh sốt do phế nhiệt.

Hai bên má nổi mầu nhạt đỏ lẫn trắng: dấu hiệu dương khí hư.

Gò má góc dưới khóe mắt ngoài biến dạng: nổi cục u nhỏ mầu hơi đậm hơn các chỗ khác, có thể đó là dấu hiệu bướu trong vú.

3.QUAN SÁT mắt:

Mắt chỉ chức năng của ngũ tạng, nó biểu lộ dấu hiệu bệnh của tim, gan, lá lách, phổi ,thận.

Mt trong hay đục: Mắt trong là can khí khai khiếu ra mắt đủ. Mắt đục là can khí suy không lên nuôi mắt, làm mỏi mắt, hoa mắt..

Mt mờ do hỏa vọng: Do can khí thực.

Mt tinh anh hay lờ đờ: Mắt tinh anh là thần mạnh, mắt lờ đờ là thần kinh suy nhược.

Mt khô hay ướt: Mắt khô là thủy khí của thận không lên nuôi mắt, mắt ướt là thủy khí của thận đầy đủ.

Mt có quầng thâm hay không: Có quầng thâm do thận hư.

Tròng trắng: chỉ bộ vị của phổi, nếu trong sáng là phổi tốt, trắng đục là phổi yếu, bệnh.

Tròng đen: chỉ bộ vị của gan, nếu trong là chức năng gan tốt, nếu đục là chức năng gan hư yếu.

Con ngươi to hay nhỏ: Con ngươi chỉ bộ vị của thận, con ngươi bình thường nhìn từ bên ngoài vào có bề ngang to chừng 5mm, nếu con ngươi thu nhỏ lại khi ra ánh sáng chỉ còn 3mm, khi vào trong tối sẽ nở to ra khoảng 7mm chứng tỏ mắt điều tiết đúng. Mắt có dấu hiệu bệnh cận thị thì nở lớn mà không thu nhỏ được, dấu hiệu viễn thị thì con ngươi thu nhỏ lại mà không nở ra được .

Mt có vết trắng đục che tròng đen: là dấu hiệu mắt có cườm.

Gai thị không đều: là những hình que hiện ra nơi tròng đen không đều làm loạn thị, loạn sắc.

Tròng trắng có nhiều gân máu đỏ: là dấu hiệu gan nhiệt phạm phế ,nếu có ghèn là can phế nhiệt.

Mt lé: Lé là dấu hiệu can phong làm cơ vòng, cơ

co và cơ giãn điều chỉnh mắt bị lệch một bên làm lé vào trong hay lé ra ngoài .

Mi mắt sưng: nếu sưng mí mắt là dấu hiệu tỳ nhiệt tạo ra thấp nhiệt là điều kiện dễ phát sinh vi trùng và dễ bị nhiễm trùng..

Mt và trong mí mắt trắng xanh đục, không có thần sắc: là dấu hiệu bạch cầu tăng, hồng cầu giảm. Nếu cơ thể suy nhược dáng người mệt mỏi, da trắng xanh là dấu hiệu ung thư máu.

Mt ưa nhắm không nhìn ai: thuộc chứng hàn.

Mt đỏ, mở lớn nhìn người: thuộc chứng nhiệt.

4.QUAN  SÁT  TINH  THẦN  QUA  ÁNH MẮT:

Mt nhìn đăm đăm: là hận thù, giận, bực tức.

Mt nhìn đăm đăm rồi không thèm nhìn nữa: là ghen ghét khinh bỉ.

Mt nhìn ngơ ngác: tâm trạng rối loạn, lo lắng, sợ hãi.

Mt nhìn ngơ ngác mà ánh mắt yếu: lá thần thoát, thoát dương khí, sắp bị tai họa hay tận số.

Mt nhìn áy náy: tâm trạng lo lắng không yên.

Mt nhìn tò mò: Tinh thần không ổn định, hoang mang ,nghi ngờ.

5.QUAN SÁT mũi:

Mũi là bộ vị để khám bệnh ở tim, cuống phổi, cổ họng.

Cánh mũi phập phồng: Nếu có là dấu hiệu phổi bệnh dễ nhiễm cảm nóng lạnh.

Đầu mũi đỏ: là dấu hiệu tâm dư hỏa, do sốt, do áp huyết cao, người bị nhiệt.

Đầu mũi trắng: là dấu hiệu tim mất nhiệt, người bị hàn, lạnh.

Mũi sưng: là dấu hiệu nhiễm trùng, viêm xoang.

Chân mũi lở nứt mầu đỏ hay nổi hột mụn: là dấu hiệu thấp nhiệt ở tim gây ra loạn nhịp tim, tim đập mất nhịp..

Sống mũi lệch: là dấu hiệu vách ngăn mũi lệch dễ bị nghẹt một bên mũi.

6.QUAN SÁT môi:

Môi là bộ vị để tìm dấu hiệu bệnh tật ở chức năng tiêu hóa của tỳ vị, tim mạch và buồng trứng ở phụ nữ.

Môi dầy hay mỏng: Môi tự nhiên dầy lên do tỳ nhiệt, do phong nhiệt làm sưng môi. Thủy khí hay bị khát nhưng uống nước nhiều môi vẫn khô là  do  thận  thủy  không  hóa  khí  do  thận  dương  không chuyển hóa.

Môi nhợt trắng hoặc xanh tím: thuộc hàn chứng.

Môi khô nứt sưng đỏ: thuộc nhiệt chứng.

Môi trắng nhạt hay hồng hay đỏ đậm: Môi trắng là chức năng tỳ hư yếu không muốn ăn, sưng hay xệ là tỳ bị thấp nhiệt, hay môi dưới tự nhiên xệ xuống cằm như sưng là dấu hiệu của hở van tim.

Môi đỏ không tươi, ngả mầu thâm: Do huyết ứ tắc thuộc thực chứng.

Môi bị thâm đen vĩnh viễn không trở lại mầu cũ như trước khi chưa bệnh: là dấu hiệu phản ứng phụ do lạm dụng truyền qúa nhiều nước biển khi bị bệnh .

Vị trí môi cân đối với khuôn mặt hay bên cao bên thấp: là dấu hiệu một bên buồng trứng bị xệ, nếu không có dấu hiệu đau chỉ có dấu hiệu bờ môi trên một bên có một lỗ chấm lõm rất nhỏ nhìn kỹ mới thấy, là dấu hiệu đã cắt mổ buồng trứng.

Vị trí cạnh khóe môi khi cười hơi lệch: là dấu hiệu sắp bị trúng phong méo miệng, gân một bên má miệng thỉnh thoảng co giật là thần kinh mặt bên co bên rút.

Rãnh cười quanh môi mũi không đều: bên cao bên thấp, bên dài bên ngắn là dấu hiệu đau do dây chằng co rút.

Mu sắc chung quanh môi trên trắng xanh: là dấu hiệu lạnh ruột sôi bụng ăn không tiêu ,hay bị tiêu chảy, do ăn nhiều thức ăn tạo ra nhiều hàn khí như cam, rau xanh, đồ biển, uống lượng nước nhiều trong một lần làm xệ ruột.

Mu môi và chung quanh môi trắng xanh: là dấu hiệu ung thư ruột, bụng nặng tức, đau.

Rãnh nhân trung giữa mũi và môi: chỉ bộ sinh dục nam nữ .Khi hai vợ chồng bị hiếm muộn, khó thụ thai, nếu nguyên nhân không do yếu tố thuộc lãnh vực đông tây y, là do tử cung bị lệch, có dấu hiệu lệch nhân trung, người ngoài có thể nhận ra khi vọng chẩn. Ngoài ra có trường hợp không phải lý do tử cung lệch thì do nguyên nhân chiều dài và độ sâu hiện ra trên nhân trung của hai vợ chồng không phù hợp, giống như nồi và vung không đúng số, trong sách tướng số cũng từng nói ‘’mồm làm sao, ngao làm vậy.’’

7.QUAN SÁT lưỡi:

Lưỡi là bộ vị chẩn đoán những diễn tiến của bệnh tật ở bao tử, chức năng chuyển hóa và hấp thụ thức ăn có liên quan đến ngũ tạng như tim, gan, phế, thận.

Đầu lưỡi: chỉ sự hoạt động và diễn tiến bệnh tình thuộc về chức năng tim.

Nếu đầu lưỡi đỏ hơn các chỗ khác của lưỡi là tim nhiều hỏa gây ra nhiệt bệnh, cần phải khám phối hợp ở các bộ vị khác để tìm bệnh (như cao áp huyết, sốt nhiệt, bao tử nhiệt, táo bón..). Nếu mầu đỏ tươi sáng là bệnh thuộc thực chứng, mầu đỏ tối thuộc hư chứng.

Da lưỡi: chỉ chức năng hoạt động của phổi. Da lưỡi sáng, tươi nhuận, mỏng, trơn mịn, chứng tỏ sự khí hóa của phế tốt.

Mt lưỡi: chỉ chức năng hoạt động của bao tử (vị), nếu có mầu hồng ,mềm dẻo, linh động, có một lớp rêu lưỡi mỏng, là chức năng của vị tốt.

Nếu mặt lưỡi dầy, có lớp rêu trắng dầy :là chức năng bao tử không tốt.

Nếu mặt lưỡi có hột, có gai, đầu lưỡi và giữa lưỡi đỏ: là chức năng của tâm và vị đều thực nhiệt.

Nếu mặt lưỡi và cả lưỡi có những chấm tụ máu bầm đen : là nguy hiểm, bệnh liên quan đến tim, gan, tỳ vị, cho biết trong cơ thể có nơi bị xuất huyết tụ máu bầm làm tắc nghẽn tuần hoàn huyết, ăn uống không được, máu bị nhiễm độc, nhiễm trùng..

Rêu lưỡi: Nếu rêu lưỡi trắng dầy, khô là bao tử nhiệt, rêu lưỡi dầy ngả sang mầu vàng khô là bao tử qúa nhiều nhiệt, mầu vàng khô chuyển sang mầu vàng khô xanh, có vết nứt trên rêu lưỡi hay vết nứt giữa lưỡi như bị nhiệt nóng, trán nóng, khô họng, uống bao nhiêu nước cũng vẫn bị khô cổ họng.

Rêu  lưỡi  vàng hoặc nám  đen :  Bệnh thuộc lý chứng

Rêu trắng mỏng: Bệnh thuộc biểu chứng.

Rêu trắng mỏng ướt: Bệnh thuộc chứng biểu hàn

Rêu lưỡi trắng nhạt, dầy: Bệnh thuộc chứng lý hàn

Lưỡi hoạt nhuận, đầu lưỡi nở to, trắng nhạt, rêu lưỡi trắng trơn: thuộc chứng hàn.

Lưỡi cứng sượng, rêu thô vàng hoặc gai, hoặc đen, đầu lưỡi xanh sậm: thuộc chứng nhiệt.

Rêu lưỡi trắng: Bệnh thuộc chứng biểu thực. Rêu lưỡi trắng nhạt: Bệnh thuộc chứng biểu hư. Lưỡi đầy to, rêu trắng nhạt: Bệnh thuộc chứng lý thực hàn.

Lưỡi cứng sượng, rêu vàng khô: Bệnh thuộc chứng lý thực nhiệt.

Lưỡi co rút: tự nhiên lưỡi bị co rút, đông y gọi là hỏa thiêu cân, do nội nhiệt ở cơ thể do gan nhiệt làm ra hại đến thần kinh khiến lưỡi bị co rút ngắn hoặc lệch một bên sinh ra tật nói ngọng, đớ lưỡi.

Lưỡi dầy, trơn, ướt, trắng nhạt, rêu trắng: chứng tỏ người hàn, bao tử hàn, không muốn ăn.

Gốc lưỡi đỏ hay sưng: gốc lưỡi sâu trong cổ họng chỉ chức năng hoạt động của thận, nếu thận hoạt động tốt thì gốc lưỡi lúc nào cũng ướt, khi bị khô cổ họng là thận thủy không đưa nước lên tới cổ họng, khi đau viêm họng là tuyến thượng thận mất chức năng điều chỉnh hormones

để kháng viêm.

Cạnh hai bên hông lưỡi: chỉ chức năng hoạt động của gan. Cạnh lưỡi bằng phẳng trơn tru là chức năng gan tốt. Nếu cạnh lưỡi có gai hay có hình răng cưa là gan bị nhiệt. Cạnh lưỡi vừa có gai, có hình răng cưa nhăn nhúm, vừa có mầu đỏ đậm hoặc bầm đen là gan bị tổn thương thực thể như chai gan, viêm gan loại A,B,C.

8.QUAN SÁT RĂNG , NƯƠU RĂNG:

Răng chỉ chức năng hoạt động của thận dương . Nướu răng chỉ chức năng tỳ vị. Nếu chân răng chắc là chức năng tỳ vị khỏe.

Nếu nướu răng lỏng lẻo là chức năng tỳ vị thực nhiệt làm sưng nướu và chân răng. Nếu nướu dễ mọc mụn bọc mủ do bao tử chứa thức ăn tích nhiệt độc, ăn thiếu sinh tố E trong rau xanh.

Răng tốt, men răng trắng bóng: chỉ chức năng thận dương hoạt động tốt.

Răng khô: chỉ chức năng chuyển hóa thận âm của thận dương yếu không đem chất xương nuôi răng.

Răng ngả mầu tối đen, không bóng, có chỉ sọc trên mặt răng: cho biết chức năng thận âm dương đều hư yếu.

9.QUAN SÁT TAI:

Tai  là bộ vị chỉ  chức năng hoạt động của thận và tuyến thượng thận.

Mầu sắc của hai tai giống nhau và hồng như mầu da mặt, tươi sáng là chức năng hoạt động của thận tốt.

Tai chia hai phần, nửa tai phần trên chỉ sự hoạt động của tuyến thượng thận hay còn gọi là thận dương, nửa tai phần dưới chỉ chức năng thận âm. Cả hình dáng của tai chỉ hình phản chiếu hình thể của qủa thận.

Phần trên tai sưng, da tai như mọng nước: cho biết tuyến thượng thận bên phía tai đó bị bệnh. Nếu đỏ bầm phần trên hai bên tai là thận dương không chuyển hóa tạo hormones để phòng chống bệnh.

Mu sắc hai tai trắng nhạt hơn da mặt: cho biết chức năng thận âm dương đều hư yếu, người bị hàn, lạnh.

Tai nở to dầy như sưng màu trắng sanh: chứng tỏ sưng thận, phù nước, không chuyển hóa, cơ thể hư nhược bệnh hoạn nặng trong bệnh liệt thận.

Vành tai dầy, có những hột cứng chìm trong da: không phải mụn, không đau không đỏ, chứng tỏ trong cơ thể có bướu, hạch.

Loa tai tự nhiên mở rộng mỏng ra: nhìn thấy như tai lừa khác với tai bên kia hay nhìn thấy khác với bình thường, chứng tỏ cơ thể bị độc tố nặng mà chức năng thận không thải lọc được như trong trường hợp bệnh ung thư phải dùng đến hóa chất trị liệu với liều cao. Khi độc tố trong cơ thể ít đi loa tai sẽ trở lại bình thường.

10.QUAN SÁT MÓNG TAY ,CHÂN:

Đông y nhìn móng tay và chân để tìm dấu hiệu của khí ,huyết liên quan đến dinh dưỡng đúng hay sai.

Các móng tay mỏng và hồng: là khí đủ, huyết đủ. Móng tay mỏng và trắng: là khí đủ huyết thiếu. Móng tay dầy, cứng, bền: là huyết đủ, khí dư. Móng tay cứng khô: là khí dư, huyết thiếu.

Móng tay xám đen: là khí huyết không đến nuôi móng tay .

Móng xanh tím: thuộc chứng hàn.

Móng đỏ tím: thuộc chứng nhiệt.

Móng tay trắng nhạt: là khí huyết đều thiếu.

Móng tay có phao trắng: là do tình trạng dinh dưỡng sai lầm không phù hợp với nhu cầu mà cơ thể cần.

Móng tay thâm đen như dính thuốc nhuộm: là có tình trạng hở van tim.

Móng tay chân nứt dọc thành rãnh: là dấu hiệu của bệnh liên quan đến gan thận.

Móng chân hai mầu: Móng chân khô sước như sớ gỗ ,phần trong móng mầu vàng là dấu hiệu nhiễm bệnh sida.

Móng chân biến dạng: Móng chân đen và hình thù biến dạng là dấu hiệu bệnh nấm.

11-QUAN SÁT DA TAY CHÂN:

Da là bộ vị chỉ chức năng của phổi, được nuôi dưỡng bằng ăn uống thuộc tỳ- vị, hô hấp thuộc phổi, và trao đổi sự khí hóa hòa hợp của tâm- thận, nên da lúc nào cũng mịn, tươi sáng, hồng, lỗ chân lông khép kín. Nếu một trong các cơ quan tạng phủ trên bị bệnh thì da sẽ bị biến đổi khác.

Da khô mốc: chỉ chức năng chuyển hóa của thận yếu.

Lỗ chân lông hở to: chỉ chức năng của phổi yếu,có liên quan đến bệnh của phổi.

Da phù nước hoặc phù khí: chỉ chức năng của tâm hỏa không đủ chuyển hóa thận thủy.

Da hay bị tụ máu bầm đỏ dưới da, không đau: Chỉ chức năng của tỳ không nạp đường, dấu hiệu của bệnh tiểu đường.

Da nổi mụn chìm, mụn âm, không đau: Do huyết âm hư.

Da nổi mụn có ngòi mủ, mụn dương, sờ vào đau:Trong người có nhiều nhiệt độc.

Da cổ chân có vết bầm đen: chỉ chức năng thận dương hư.

Da có vết bầm sưng đau: Do ứ huyết thực chứng.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *